TRƯỜNG HỢP HẾT QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
1. Hết quyền sở hữu trí tuệ là gì?
Hết quyền Sở hữu trí tuệ (SHTT) là trạng thái khi một sản phẩm mang đối tượng SHTT được đưa ra thị trường bởi chính chủ thể nắm giữ quyền SHTT hoặc với sự đồng ý của chủ thể này, thì chủ thể nắm giữ quyền SHTT không còn quyền kiểm soát đối với việc phân phối và khai thác thương mại các sản phẩm đó nữa. Khi đó, các hành vi thương mại như sử dụng, bán, đề nghị bán, cất giữ để bán, cho thuê hoặc các hành vi phi thương mại như tặng, cho mượn sản phẩm mang đối tượng SHTT được bảo hộ do chủ thể khác tiến hành sẽ không bị coi là xâm phạm quyền SHTT.
Từ đó, có thể hiểu rằng hết quyền SHTT đối với nhãn hiệu là khi sản phẩm mang nhãn hiệu đã được bảo hộ được đưa ra thị trường bởi chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc với sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu thì chủ sở hữu sẽ không còn quyền kiểm soát việc khai thác thương mại đối với sản phẩm này nữa.
Sự tồn tại của hết quyền SHTT tạo cơ sở hình thành nên hệ thống thương mại song song, hay còn gọi là nhập khẩu song song. Theo đó, nhập khẩu song song là việc nhập khẩu những hàng hóa chính hiệu (genuine goods) đã được chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác đưa ra thị trường nước ngoài với sự đồng ý của chủ sở hữu. Việc kinh doanh này diễn ra song song với các kênh phân phối được uỷ quyền. Các hoạt động trao đổi hàng hóa nhập khẩu song song được xem là hợp pháp nhưng không chính thức, bởi lẽ nó không được uỷ quyền/cho phép từ nhà sản xuất và nằm ngoài kênh phân phối của nhà sản xuất, ngoài ý muốn của các cơ quan quản lý nhà nước, điều tiết thị trường. Thị trường xuất hiện hàng hóa được phân phối bởi cả hai kênh nhập khẩu như vậy còn được gọi là thị trường xám (grey market).

2. Các trường hợp hết quyền sở hữu trí tuệ với nhãn hiệu khi nhập khẩu song song
Nguyên tắc hết quyền SHTT có những tác động khác nhau, phụ thuộc vào việc nước nhập khẩu áp dụng chế độ hết quyền quốc gia, hết quyền khu vực hoặc hết quyền quốc tế.
2.1. Hết quyền quốc gia
Với trường hợp hết quyền quốc gia, chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ hết quyền của mình trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, nghĩa là việc khai thác thương mại sau khi đã đưa sản phẩm ra thị trường nội địa thì chủ sở hữu nhãn hiệu không có quyền can thiệp. Nhưng chủ sở hữu nhãn hiệu vẫn có quyền ngăn cản việc nhập khẩu song song sản phẩm mang nhãn hiệu của mình, mặc dù đó là sản phẩm do chính họ bán ra thị trường nước ngoài. Nói cách khác, ở các quốc gia áp dụng nguyên tắc này thì nhập khẩu song song không được công nhận.
Ví dụ: Nước A1 áp dụng hết quyền quốc gia. Công ty A sản xuất ra sản phẩm mang nhãn hiệu A tại nước A1 và bán ra ở thị trường trong nước, đồng thời cho phép công ty B phân phối sản phẩm A tại Việt Nam. Sau đó, công ty C mua sản phẩm A ở Việt Nam (với giá rẻ hơn) và mang sang A1 để bán. Tuy nhiên, vì nước này áp dụng cơ chế hết quyền quốc gia nên công ty A sẽ có quyền ngăn cấm công ty B thực hiện việc nhập khẩu song song.
2.2. Hết quyền khu vực
Khi hết quyền SHTT xảy ra trong phạm vi khu vực (chẳng hạn như Khu vực Kinh tế châu Âu), chủ sở hữu nhãn hiệu không thể ngăn cấm sự lưu thông của các sản phẩm trong phạm vi khu vực khi những sản phẩm này đã được đưa ra thị trường khu vực bởi chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chủ thể khác được sự đồng ý của chủ thể này. Tuy nhiên, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền ngăn chặn việc nhập khẩu những sản phẩm này từ bên ngoài vào thị trường khu vực.
Ví dụ: Các nước EU áp dụng cơ chế hết quyền khu vực. Công ty A sản xuất ra sản phẩm mang nhãn hiệu A tại nước A1 và bán ra ở thị trường trong nước, đồng thời phân phối cho công ty D bán sản phẩm A tại Pháp. Công ty E mua sản phẩm A tại Pháp và nhập khẩu vào thị trường Đức. Lúc này, công ty A sẽ không có quyền ngăn cấm hoạt động của công ty E trên cơ sở pháp luật của Đức, nhưng nếu công ty C mua sản phẩm A ở Việt Nam và mang sang Đức bán thì công ty A sẽ có quyền ngăn cấm.
2.3. Hết quyền quốc tế
Hết quyền sở hữu trí tuệ trên phương diện quốc tế là khi khi sản phẩm được bảo hộ nhãn hiệu được chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chủ thể khác được sự đồng ý của chủ sở hữu đưa ra bất kỳ thị trường nào trên thế giới. Khi cơ chế này được áp dụng, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ không có quyền ngăn chặn bất cứ chủ thể nào lưu thông hàng hóa mang nhãn hiệu của mình trên phạm vi toàn thế giới.
Ví dụ: Việt Nam áp dụng nguyên tắc hết quyền quốc tế. Công ty A sản xuất sản phẩm mang nhãn hiệu A tại nước A1 và bán tại Việt Nam thông qua nhà phân phối là công ty B. Như vậy, một công ty F có thể mua sản phẩm A tại bất kỳ quốc gia nào để nhập khẩu vào Việt Nam mà công ty A không thể ngăn cấm hành vi này.
Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ với nhãn hiệu tại một số quốc gia Đông Nam Á
Đối với pháp luật Việt Nam, điểm b khoản 2 Điều 125 Luật SHTT 2022 quy định chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu nói riêng không có quyền cấm người khác thực hiện hành vi “Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm do chủ sở hữu, người được chuyển giao quyền sử dụng, kể cả chuyển giao quyền sử dụng theo quyết định bắt buộc, người có quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định của Luật này đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài”. Như vậy, đối với hoạt động nhập khẩu song song, Việt Nam đã thể hiện quan điểm công nhận theo cơ chế hết quyền quốc tế thông qua quy định trong Luật SHTT.
Singapore cũng áp dụng cơ chế hết quyền quốc tế và nhập khẩu song song cho hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ. Điều này được thể hiện một cách minh thị tại Điều 29 Đạo luật Nhãn hiệu Singapore 1998 rằng: Nhãn hiệu đã đăng ký không bị vi phạm khi sử dụng nhãn hiệu đó liên quan đến hàng hóa đã được đưa ra thị trường, dù ở thị trường Singapore hay nước ngoài, bởi chính sở hữu nhãn hiệu hoặc với sự đồng ý rõ ràng hay ngụ ý của chủ sở hữu nhãn hiệu. Tuy nhiên, quy định hết quyền với nhãn hiệu không được áp dụng nếu điều kiện của hàng hoá mang nhãn hiệu bị thay đổi hoặc bị hư hại sau khi được đưa ra thị trường và việc sử dụng nhãn hiệu đó gây thiệt hại đến đặc thù hoặc danh tiếng của nhãn hiệu đã đăng ký.
Luật Nhãn hiệu Malaysia về cơ bản không cấm nhập khẩu song song. Tại Điều 40(1)(d) và (dd) Đạo luật Nhãn hiệu năm 1976 đã “hợp pháp hóa” nhập khẩu song song bằng cách quy định rằng nhập khẩu song song được phép nếu chủ sở hữu đã đăng ký có:
(i) Nhãn hiệu đã đăng ký được áp dụng hợp pháp trên hàng hóa và nhãn hiệu đó không bị xóa sau đó (Điều 40(1)(d)); hoặc
(ii) Đồng ý rõ ràng hoặc ngụ ý với việc sử dụng nhãn hiệu (Điều 40(1)(dd)).
Quy định ở Điều 40(1)(dd) đã được giữ lại trong Đạo luật Nhãn hiệu năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 27/12/2019). Theo đó, Điều 55(3)(c) tương đương với Điều 40(1)(dd) của Đạo luật cũ có quy định như sau: một người sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký không vi phạm nhãn hiệu nếu việc sử dụng đó đã được chủ sở hữu hoặc người được cấp phép đã đăng ký đồng ý một cách rõ ràng hoặc ngụ ý vào bất kỳ thời điểm nào.
——————————————————-
Để biết thêm thông tin về dịch vụ tư vấn thủ tục đăng ký nhãn hiệu và báo phí chi tiết, bạn đọc có thể liên hệ IP LEADER để được tư vấn cụ thể, thông tin liên hệ:
Hotline: 076 455 2008 (Mr. Bảo)
Email: info.ipleader@gmail.com
Địa chỉ: Căn 03.02 Tòa nhà Newton Residence, 38 Trương Quốc Dung, Phường 8, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh





