NHÌN LẠI MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ (PHẦN QUYỀN TÁC GIẢ)

,

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ra đời năm 2022 mang nhiều điểm mới và tiến bộ. Cùng IP Leader điểm qua một vài Điều, Khoản nổi bật trong Phần Quyền Tác Giả như sau:

  1. Sửa đổi, bổ sung một số thuật ngữ trong Luật Sở hữu trí tuệ

Luật đã sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 theo hướng định nghĩa rõ ràng hơn một số từ ngữ. Chẳng hạn, tác phẩm phái sinh “là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác”; sao chép là “việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”; tiền bản quyền là “khoản tiền trả cho việc sáng tạo hoặc chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, bao gồm cả tiền nhuận bút, tiền thù lao”; biện pháp công nghệ bảo vệ quyền là “biện pháp sử dụng bất kỳ kỹ thuật, công nghệ, thiết bị hoặc linh kiện nào trong quá trình hoạt động bình thường có chức năng chính nhằm bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan đối với hành vi được thực hiện mà không được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan”.

  1. Bổ sung giới hạn quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca

Khoản 2 của Điều 7 được bổ sung thêm trường hợp “tổ chức, cá nhân thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca”. Đây được xem là sửa đổi mang tính thời sự sau sự cố bị tắt tiếng Quốc ca trên nền tảng Youtube.

  1. Bổ sung nội dung về tác giả, đồng tác giả

Bổ sung Điều 12a quy định về tác giả, đồng tác giả. Thực tế thì phần lớn điều này đã có trong Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, nay được đưa vào luật với một số quy định rõ ràng hơn. Cụ thể, luật làm rõ hơn về đồng tác giả là có chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh. Với quy định này thì việc phân biệt giữa tác phẩm đồng tác giả và tác phẩm phái sinh sẽ trở nên minh thị hơn. Đồng thời, luật cũng đã có những quy định cụ thể hơn về quyền nhân thân đối với các loại hình tác phẩm do tập thể tác giả tạo nên như điện ảnh, sân khấu.

  1. Bổ sung quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả

Tại Điều 19 và Điều 20 quy định về quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả:

Điều 19: Bổ sung về quyền đặt tên cho tác phẩm (thuộc nhóm quyền nhân thân) có thể “chuyển quyền sử dụng […] cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản […]”. Quy định này cũng kéo theo sự thay đổi của khoản 1 Điều 47 Luật này. Một mặt, quy định này có thể xem là luật hóa một thông lệ trong ngành xuất bản, khi mà không phải lúc nào tác giả cũng được toàn quyền đặt tên mà phải thỏa hiệp với nhà xuất bản để lựa chọn một tên phù hợp. Tuy nhiên, quy định này lại làm sai lệch bản chất về tính toàn vẹn của tác phẩm khi tách rời giữa tên với phần nội dung tác phẩm. Với quy định mới này, quyền đặt tên vẫn là quyền không được chuyển nhượng nhưng có thể chuyển quyền sử dụng.

Điều 20: Trước hết, Điều 20 không đưa thêm quyền tài sản mới nào mà chỉ định nghĩa chi tiết hơn một số quyền như biểu diễn tác phẩm, sao chép tác phẩm, … Một số quy định thực chất chỉ là chuyển từ Nghị định số 22/2018/NĐ-CP vào Luật.

Khoản 2 có một thay đổi đáng chú ý là: “trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 của luật này còn phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả”. Điều này là vấn đề đáng quan ngại vì sẽ làm hạn chế đáng kể khả năng tự do khai thác tác phẩm của chủ sở hữu. Bởi lẽ, làm tác phẩm phái sinh chắc chắn sẽ phải sữa chữa, cắt xén tác phẩm gốc; còn để xác định những thay đổi đó có gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả không thì vô cùng mơ hồ. Vậy khi nào bị xem là “ảnh hưởng đến quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19” để phải lập văn bản và khi nào thì không? Từ đó, gần như chủ sở hữu phải thỏa thuận bằng văn bản với tác giả trong mọi trường hợp để tránh rắc rối pháp lý.

Khoản 3 được quy định mới, bổ sung hai trường hợp chủ sở hữu quyền không thể ngăn cấm:

  1. “Sao chép tác phẩm chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp tác phẩm, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại”;
  2. “Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.” Với quy định này, Việt Nam đã chính thức cho phép nhập khẩu song song tác phẩm được bảo hộ. Trước đây, luật quy định cấm “xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả” – tức là hoàn toàn không áp dụng nguyên tắc hết quyền. Quy định cũ làm hạn chế khả năng tiếp cận của công chúng đến các tác phẩm đã lưu hành hợp pháp, nhất là từ thị trường nước ngoài.
  3. Bổ sung thêm các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả

Quy định ở Điều 25 có sự thay đổi khá toàn diện, trước hết là về tên gọi: đổi từ “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” thành “Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả.” Tên gọi mới ngắn gọn và tiệm cận hơn với các cách gọi quốc tế như fair use, fair dealing.

Một số thay đổi nổi bật trong quy định này đó là:

  1. “Tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại. Quy định này không áp dụng trong trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép”.

Như vậy luật mới ghi nhận quyền tự sao chép phục vụ mục đích học tập, thay vì giới hạn ở giảng dạy và nghiên cứu như trước đây.

  1. “Sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại”.

Đây là một quy định hợp lý về các trường hợp ngoại lệ. Khoản này bổ sung cho khoản 1, và điều này sẽ rất hữu ích cho hoạt động của thư viện nơi thường đặt các máy photocopy cho người đọc sử dụng. Để áp dụng được quy định này, các cơ sở giáo dục cần phải ban hành quy chế nội bộ về tỷ lệ tối đa được sao chép, chẳng hạn: một người không được sao chép quá 15%/mỗi tác phẩm.

  • “Sử dụng hợp lý tác phẩm để minh họa trong bài giảng, ấn phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích giảng dạy. Việc sử dụng này có thể bao gồm việc cung cấp trong mạng máy tính nội bộ với điều kiện phải có các biện pháp kỹ thuật để bảo đảm chỉ người học và người dạy trong buổi học đó có thể tiếp cận tác phẩm này”;

Như vậy, bên cạnh trích dẫn hợp lý, luật mới còn cho phép trường hợp sử dụng hợp lý, mở đường cho việc sử dụng trực tiếp các tác phẩm để minh họa nhằm mục đích giảng dạy một cách dễ dàng hơn.

  1. “Sử dụng tác phẩm trong hoạt động thư viện không nhằm mục đích thương mại, bao gồm sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản, với điều kiện bản sao này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ; sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép cho người khác phục vụ nghiên cứu, học tập; sao chép hoặc truyền tác phẩm được lưu giữ để sử dụng liên thông thư viện thông qua mạng máy tính, với điều kiện số lượng người đọc tại cùng một thời điểm không vượt quá số lượng bản sao của tác phẩm do các thư viện nói trên nắm giữ, trừ trường hợp được chủ sở hữu quyền cho phép và không áp dụng trong trường hợp tác phẩm đã được cung cấp trên thị trường dưới dạng kỹ thuật số”.

Đây là quy định cụ thể, chi tiết và tạo điều kiện cho thư viện và liên thư viện được dễ dàng lưu trữ, hỗ trợ bạn đọc tiếp cận được nhiều nguồn tài liệu hơn bằng hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến.

  1. Bổ sung hình thức nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả

Khoản 1 Điều 50 quy định về Hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan: “Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan theo cách thức trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc qua Cổng dịch vụ công trực tuyến cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan”.

  1. Thay đổi trong hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan

Khoản 2 Điều 50 quy định về Hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan có những điểm mới sau:

  • Thời gian hoàn thành;
  • Thông tin về cấp lại, cấp đổi (nếu có), cam đoan về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong tờ khai;
  • Tờ khai do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ký tên hoặc điểm chỉ, trừ trường hợp không có khả năng về thể chất để ký tên hoặc điểm chỉ.

CƠ SỞ PHÁP LÝ

  • Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 và 2019;
  • Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022;
  • Nghị định 22/2018/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan.

Trên đây là một số thông tin về điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ phần Quyền tác giả. Nếu bạn đọc cần tư vấn thêm về các vấn đề pháp lý khác liên quan đến sở hữu trí tuệ, vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin như sau:

Hotline: (+84) 764 552 008 (Mr. Bảo)

Email: info.ipleader@gmail.com

Website: https://ipleader.vn

Fanpage: https://www.facebook.com/IPLEADER.LTD

Địa chỉ: Căn 03.02 Tòa nhà Newton, 38 Trương Quốc Dung, Phường 8, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh