BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH – ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống nói chung và nhãn hiệu âm thanh nói riêng là vấn đề rất mới không chỉ đối với Việt Nam mà còn cả các quốc gia trên thế giới. Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ ra đời vào năm 2022 (sau đây được viết tắt là “Luật SHTT 2022”) lần đầu tiên ghi nhận về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh. Điều này một mặt thể hiện sự tiến bộ trong tư duy lập pháp quốc gia, mặt khác còn thể hiện sự “xích lại gần hơn” của pháp luật Việt Nam với pháp luật thế giới. Với tư cách là thành viên của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam ngày càng quan tâm hơn đến cơ chế bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống. Xuất phát từ kinh nghiệm bảo hộ của nhiều quốc gia khác và các quốc gia thành viên của CPTPP, Việt Nam đang từng bước thừa hưởng kinh nghiệm lập pháp cũng như thực tiễn bảo hộ ở các quốc gia này để xây dựng nên cơ chế bảo hộ nhãn hiệu âm thanh.
Vậy nhãn hiệu âm thanh là gì? Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu âm thanh như thế nào và biểu hiện cụ thể trong Luật SHTT 2022 này ra sao? Hãy cùng IP Leader tìm hiểu rõ hơn thông qua bài viết dưới đây.

- Một vài nét về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh trên thế giới
Khác với nhãn hiệu truyền thống chỉ có thể nhận biết bằng thị giác, thì nhãn hiệu âm thanh có thể được nhận biết bằng thính giác. Nhãn hiệu âm thanh có thể là một đoạn âm thanh, có thể là sự kết hợp từ các loại âm thanh khác nhau (như nhạc cụ, giọng hát, tiếng kêu của động vật, tiếng phát ra từ các vật dụng khác…) đủ để người tiêu dùng có mức hiểu biết trung bình có thể ghi nhớ và phân biệt được (theo định nghĩa nhãn hiệu âm thanh của Luật Nhãn hiệu Hoa Kỳ). Nhãn hiệu âm thanh đầu tiên được bảo hộ trên thế giới là nhãn hiệu “3 hồi chuông” (số 916522) của Đài NBC từ năm 1971 cho dịch vụ phát thanh tại Hoa Kỳ.
Tương tự với nhãn hiệu truyền thống, nhãn hiệu âm thanh cũng phải đáp ứng tiêu chuẩn như một nhãn hiệu thông thường là dấu hiệu có khả năng phân biệt so với các nhãn hiệu cùng thể loại có trước trong phạm vi quốc gia cho loại hàng hóa/dịch vụ yêu cầu bảo hộ. Quá trình thẩm định nhãn hiệu tại Hoa Kỳ và Australia cho thấy, nhãn hiệu âm thanh có thể bị từ chối trên cơ sở tuyệt đối và cả tương đối. Trong đó, từ chối tuyệt đối được áp dụng cho những âm thanh chứa từ ngữ sẽ áp dụng giống như quy trình thẩm định dấu hiệu chữ trong nhãn hiệu thông thường, tức là từ ngữ trong âm thanh (nếu có) sẽ không được chứa các dấu hiệu chữ bị loại trừ bảo hộ và không có khả năng phân biệt. Ngoài ra, các âm thanh có thể bị từ chối bảo hộ nếu âm thanh đó không thực hiện được chức năng nhãn hiệu do mô tả chính hàng hóa/dịch vụ mang nó.
Các nhãn hiệu âm thanh cũng có thể bị từ chối tương đối nếu bị coi là trùng hoặc tương tự với các loại âm thanh có trước đó. Mặc dù không được làm rõ trường hợp nào dấu hiệu âm thanh yêu cầu bảo hộ bị coi là tương tự với một phần tác phẩm âm nhạc có bản quyền trước đó, nhưng trong trường hợp bị phản đối, nhãn hiệu âm thanh hoàn toàn có thể bị từ chối trên cơ sở này nếu chủ sở hữu quyền tác giả, tác phẩm âm nhạc có trước chứng minh được nhãn hiệu âm thanh đã sao chép một phần tác phẩm của mình. Giai điệu huyền thoại Nokia Tune được bảo hộ bởi USPTO (số 2413729) từ năm 2000 là một trường hợp đặc biệt dù thực chất, Nokia Tune là giai điệu được trích từ một tác phẩm dành cho độc tấu guitar tên là Grande Valse do Francisco Tárrega (một nhà soạn nhạc cổ điển Tây Ban Nha) viết vào năm 1902.
Các tài liệu yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu âm thanh nhìn chung đều trên cơ sở bản mô tả nhãn hiệu gồm ký hiệu âm nhạc hoặc các tệp MP3 có biểu diễn đồ họa phù hợp xác định cao độ và thời lượng của âm thanh – tạo thành âm thanh tương ứng với chuỗi âm thanh tạo thành giai điệu đang cần được đăng ký (hướng dẫn của Australia) hoặc một bản đồ họa có thể được nộp cùng với một tệp điện tử là một siêu âm, tức là một biểu diễn đồ họa của âm thanh, cho thấy sự phân phối năng lượng ở các tần số khác nhau (hướng dẫn của EU). USPTO yêu cầu người nộp đơn phải nộp một bản sao âm thanh có liên quan tới nhãn hiệu âm thanh đó nhằm mục đích bổ sung và làm rõ bản mô tả âm thanh dự kiến được bảo hộ (2).
Việc diễn giải bằng đồ họa cho phép thẩm định viên có thể thẩm định nhãn hiệu âm thanh trên cơ sở “nhìn thấy được” và sau đó so sánh với các bản đồ họa nhãn hiệu âm thanh khác có trước. Các thẩm định viên trở thành các chuyên gia thẩm âm để phân định các âm thanh trong yêu cầu bảo hộ và đưa ra thông báo thẩm định.
Nhãn hiệu âm thanh cũng có thể trở thành nhãn hiệu nổi tiếng như trường hợp nhãn hiệu âm thanh tiếng sư tử gầm mở đầu phim là một nhãn hiệu âm thanh nổi tiếng của hãng phim MGM (Hoa Kỳ):

(Nguồn: doanhnhantaichinh)
Ngoài ra, tiếng nhạc “Looney Tunes Theme Song” là một nhãn hiệu âm thanh nổi tiếng của Time Warmer:

(Nguồn: themoviethemesong.com)
- Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh trong Luật sửa đổi, bổ sung luật Sở hữu trí tuệ ra đời năm 2022
Việc tạo hành lang pháp lý ổn định để bảo hộ nhãn hiệu âm thanh không chỉ thực hiện trong cam kết với CPTPP mà còn đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và xu hướng hội nhập quốc tế. “Nhãn hiệu âm thanh” nghe thì có vẻ xa lạ nhưng thực tế các doanh nghiệp đã và đang sử dụng loại nhãn hiệu này mà thậm chí chính họ cũng không nhận ra. Điển hình như giai điệu “Kangaroo” được hát theo kiểu yodel từng rất phổ biến trong các quảng cáo máy lọc nước của công ty Kagaroo.
Hiện thực hóa vấn đề này, tại khoản 20 Điều 1 Luật SHTT 2022 có bổ sung khoản 1 Điều 72 trường hợp “hoặc dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa”. Ngoài ra, khoản 34 Điều 1 Luật SHTT 2022 có bổ sung khoản 2 Điều 105 trường hợp “nếu nhãn hiệu là âm thanh thì mẫu nhãn hiệu phải là tệp âm thanh và bản thể hiện dưới dạng đồ họa của âm thanh đó”.

Đề cập đến quy định này, có thể thấy Luật SHTT 2022 đã bổ sung thêm trường hợp nhãn hiệu là “dấu hiệu âm thanh được thể hiện dưới dạng đồ họa”. Theo quan điểm của IP Leader, nhà làm luật cần làm rõ như thế nào được coi là “dạng đồ họa”. Bên cạnh đó, trong trường hợp nhãn hiệu âm thanh được thể hiện dưới dạng khác như khuông nhạc, nốt nhạc, sóng âm, miêu tả bằng lời văn, … thì liệu có được bảo hộ hay không? Ngoài ra, cách thức thể hiện dấu hiệu âm thanh, mẫu nhãn hiệu âm thanh khi tiến hành đăng ký là một vấn đề khá phức tạp, cần phải quy định cụ thể để vừa bảo đảm yêu cầu cho việc thẩm định về tính phân biệt của nhãn hiệu đăng ký nhưng cũng cần thuận lợi cho việc công bố đơn đăng ký và lưu giữ hồ sơ.
Góp ý vào quy định này, PGS.TS Lê Thị Nam Giang, Giảng viên trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cho rằng: Luật SHTT sửa đổi, bổ sung hiện nay chưa đảm bảo được tính đồng bộ, thống nhất và hiệu quả trong việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh. Với quy định hiện nay, thực chất chúng ta đang thiếu một cơ sở pháp lý cho việc từ chối bảo hộ nhãn hiệu âm thanh trong 2 tình huống. Đối với, nhãn hiệu âm thanh được cấu tạo thành âm thanh đơn giản, chúng ta có thể bổ sung ngay vào điểm a, khoản 2 Điều 74. Trong đó, đưa vào việc loại trừ bảo hộ nhãn hiệu âm thanh đơn giản trừ trường hợp nếu như dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi như một nhãn hiệu trước ngày nộp đơn. Và tương tự với việc nhãn hiệu âm thanh trùng hoặc tương tự với một tác phẩm âm nhạc hoặc là một phần của một tác phẩm âm nhạc thì hiện nay chúng ta cũng không có cơ sở để từ chối trong khi đó nhãn hiệu âm thanh có thể được cấu tạo từ tác phẩm âm nhạc hoặc những dấu hiệu âm thanh khác ví dụ như tiếng động của con người, tiếng động của tự nhiên… Vì vậy, đề xuất bổ sung vào quy định tại điểm p khoản 2 Điều 74 đưa vào trường hợp loại trừ bảo hộ nhãn hiệu âm thanh trong tác phẩm thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả của người khác trước ngày nộp đơn.
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề xác định dấu hiệu nào có thể được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu âm thanh không phải là điều đơn giản. Bởi lẽ, việc đánh giá những nhãn hiệu truyền thống được đã thể hiện dưới dạng vật chất nhất định (từ ngữ, hình vẽ, màu sắc, …) trên thực tế còn phụ thuộc rất lớn vào cảm quan của thẩm định viên. Pháp luật quy định thời gian thẩm định nội dung nhãn hiệu là không quá 9 tháng kể từ ngày công bố đơn, nhưng thực tế thời gian này có thể lên tới 2 năm, thậm chí là 5 năm, 7 năm. Do đó, việc xác định dấu hiệu có thể được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu âm thanh cần được đưa về một quy chuẩn chung, cụ thể và rõ ràng. Về bản chất nhãn hiệu âm thanh cũng là một loại nhãn hiệu, do vậy nó cần đảm bảo được những điều kiện bảo hộ chung là tính phân biệt và tính phi chức năng. Nếu nhãn hiệu truyền thống quy định các dấu hiệu mô tả chức năng, nguồn gốc và quá trình sản xuất sản phẩm sẽ bị loại trừ thì với nhãn hiệu âm thanh, các quốc gia thường nhấn mạnh tính phi chức năng. Thực chất, tính phi chức năng cũng phục vụ cho tiêu chí về khả năng phân biệt. Điển hình, người ta không thể sử dụng âm thanh rồ ga xe máy hay tiếng còi xe máy để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh cho sản phẩm xe máy, bởi âm thanh này vốn gắn liền với hoạt động của xe máy nói chung; tương tự như vậy, chúng ta cũng không thể sử dụng âm thanh “ting” sau khi làm chín đồ ăn của lò vi sóng để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh cho sản phẩm lò vi sóng.
Luật này có hiệu lực thi hành từ 01/01/2023, trong đó quy định về bảo hộ nhãn hiệu là dấu hiệu âm thanh có hiệu lực thi hành sớm hơn (từ ngày 14/01/2022). Tuy nhiên, về quy trình và thủ tục nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh cụ thể như thế nào, chúng ta cần chờ Thông tư hướng dẫn chi tiết thêm.
- Cơ sở pháp lý:
Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019;
Luật Sở sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019.
- Nguồn tham khảo:





