Làm thế nào để lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp?

Luật doanh nghiệp hiện hành quy định về 5 loại hình doanh nghiệp, bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn 1 một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn từ 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Dưới đây là tổng hợp một số ưu nhược điểm của từng loại hình doanh nghiệp nhằm giúp quý khách hàng có cái nhìn tổng quan cũng như lựa chọn thành lập loại hình doanh doanh nghiệp phù hợp.

1. Doanh nghiệp tư nhân:

Khoản 1 Điều 183 định nghĩa về Doanh nghiệp tư nhân:“Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”.

Từ khái niệm trên, ta có thể thấy rằng ưu điểm đầu tiên của mô hình này là cơ cấu tổ chức của Doanh nghiệp tư nhân đơn giản, gọn nhẹ. 
Thứ hai, chủ sở hữu là một cá nhân, hoàn toàn chủ động trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 
Thứ ba, chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của Doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng. 

Tuy nhiên, chính chế độ chịu trách nhiệm vô hạn cộng với việc Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân trở thành nhược điểm khiến khả năng chịu rủi ro của chủ sở hữu cao hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. 
Hơn nữa, chủ sở hữu Doanh nghiệp tư nhân chỉ được thành lập 1 doanh nghiệp tư nhân, không được đồng thời làm thành viên hợp danh hay làm chủ hộ kinh doanh. Doanh nghiệp tư nhân có thể góp vốn thành lập mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:

“Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp do một tổ chức hay một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.”
Đây là định nghĩa về Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được quy định trong Luật doanh nghiệp 2014.

Vì công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân nên chủ sở hữu công ty chỉ phải chịu trách nhiệm đối với các hoạt động của công ty trong phạm vi vốn góp của mình. Đó là ưu điểm trước tiên của loại hình doanh nghiệp này. 
Tiếp đến, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ. Việc điều hành, quản lý công ty cũng không quá phức tạp bởi mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty do chủ sở hữu công ty toàn quyền quyết định.
Cuối cùng, trong trường hợp chủ sở hữu có mong muốn chuyển nhượng công ty thì việc thực hiện các thủ tục cũng không quá khó khăn.

Xét về nhược điểm thì mô hình tổ chức doanh nghiệp này gặp hạn chế trong việc huy động vốn bởi đặc thù về cơ cấu tổ chức cũng như khả năng phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ do một cá nhân hoặc một tổ chức làm chủ sở hữu.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng không có quyền phát hành cổ phiếu. Do đó, nếu muốn huy động vốn hoặc giảm vốn điều lệ, doanh nghiệp phải tiến hành thông qua hình thức chuyển nhượng vốn góp cho người khác hoặc tiếp nhận phần vốn của thành viên mới. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp phải chuyển đổi sang Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc Công ty cổ phần.
Thêm vào đó, việc chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm trong quá trình kinh doanh trong phạm vi vốn góp khiến cho các đối tác có phần e ngại trong việc hợp tác.

3. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên:

Ngay từ tên gọi đã chỉ ra điểm khác biệt cơ bản của mô hình này so với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có sự mở rộng về cơ cấu tổ chức, giới hạn số lượng thành viên góp vốn từ 2 đến 50. 

Ưu điểm đầu tiên của mô hình này là thủ tục thành lập tương đối đơn giản.
Tiếp theo phải kể đến mức độ rủi ro cho thành viên góp vốn là không nhiều vì Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân nên các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi vốn góp.
Ngoài ra, chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty.
Thêm vào đó, chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Số lượng thành viên của Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không nhiều nên việc quản lý, điều hành công ty cũng không quá phức tạp.

Trái lại, chế độ trách nhiệm hữu hạn giúp các thành viên góp vốn giảm thiểu rủi ro nhưng lại phần nào giảm uy tín của công ty trước đối tác. 
Việc huy động vốn của Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên tuy được mở rộng hơn so với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhưng vẫn còn hạn chế so với Công ty cổ phần do loại hình này không có quyền phát hành cổ phiếu.

4. Công ty cổ phần:

Công ty cổ phần hiểu theo Luật doanh nghiệp 2014, là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau.

Trước hết, công ty cổ phần có tư cách pháp nhân nên các cổ đông có thể giảm bớt mức độ rủi ro bởi cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm khi có phát sinh trong phạm vi vốn góp.
Thêm vào đó, khả năng huy động vốn của Công ty cổ phần được xem là cao nhất bởi một số lý do. Thứ nhất phải kể đến đặc điểm riêng có của Công ty cổ phần là có quyền phát hành cổ phiếu, trái phiếu và đưa lên Sàn giao dịch chứng khoán. Thứ hai, cơ cấu vốn của Công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện cho nhiều người cùng góp vốn và số lượng cổ đông không bị giới hạn (tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa).
Ngoài ra, khi cổ đông có nhu cầu chuyển nhượng vốn thì các thủ tục cũng tương đối dễ dàng.

Tuy nhiên, loại hình doanh nghiệp này cũng tồn tại một số nhược điểm. Xuất phát từ khả năng linh hoạt trong cơ cấu vốn dễ dẫn đến sự phân hoá các nhóm cổ đông đối kháng nhau về mặt lợi ích. Hệ quả là việc điều hành quản lý công ty sẽ phức tạp hơn.
Hơn nữa, việc thành lập Công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình doanh nghiệp khác do bị ràng buộc về chế độ tài chính, kế toán.

5. Công ty hợp danh:

Luật doanh nghiệp 2014 có định nghĩa về Công ty hợp danh tại Điều 172. Trong đó, Công ty hợp danh là doanh nghiệp có ít nhất 2 thành viên và chủ sở hữu chung, cùng kinh doanh dưới một tên chung (được gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp danh phải là cá nhân. Ngoài ra, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn.

Mô hình Công ty hợp danh có ưu điểm kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin tưởng của đối tác.
Sự tin tưởng lẫn nhau cộng với số lượng thành viên ít cũng là lý do khiến việc quản lý, điều hành Công ty hợp danh trở nên dễ dàng hơn.

Ngược lại, đặc thù về chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với các thành viên hợp danh lại làm tăng tính rủi ro cho chủ sở hữu.
Thành viên hợp danh sau khi rút khỏi công ty vẫn phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty phát sinh từ các hoạt động kinh doanh trước khi thành viên đó rút khỏi doanh nghiệp.
Ngoài ra, Công ty hợp danh cũng không được phát hành bất kỳ loại cổ phiếu nào, ít nhiều hạn chế khả năng huy động vốn của doanh nghiệp

Vậy nên lựa chọn loại hình doanh nghiệp nào khi có ý định thành lập doanh nghiệp?

Căn cứ vào số lượng thành viên góp vốn, cá nhân/tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp có thể xem xét:

  • Trường hợp chỉ có 1 thành viên góp vốn, có thể cân nhắc giữa Doanh nghiệp tư nhân và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
  • Trường hợp có hai thành viên góp vốn, có thể thành lập doanh nghiệp dưới loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên hoặc công ty hợp danh. Tuy nhiên, nên cân nhắc khi thành lập công ty hợp danh bởi những nhược điểm đã chỉ ra ở trên, đặc biệt ở chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh. Hiện nay, không nhiều cá nhân/tổ chức chọn loại hình doanh nghiệp này.
  • Trường hợp có từ 3 thành viên góp vốn trở lên, Công ty trách nhiệm hữu hạn từ 2 thành viên trở lên hoặc Công ty cổ phần là hai lựa chọn có thể tham khảo.

Ngoài ra, những khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp cũng là những yếu tố cần được cân nhắc khi thành lập doanh nghiệp, cụ thể:

  • Rủi ro đầu tư;
  • Khả năng huy động vốn;
  • Uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng;
  • Tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp;
  • Tổ chức quản lý doanh nghiệp.

Trên đây là một số phân tích về những hạn chế cũng như thuận lợi của từng loại hình doanh nghiệp. Tuỳ theo điều kiện, mục đích của cá nhân/tổ chức mà chọn lựa loại hình doanh nghiệp phù hợp.