“KHAI TỬ” SỔ HỘ KHẨU: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý

Theo Điều 38 Luật Cư trú 2020 ngày 1/7/2021, hộ khẩu giấy được sử dụng và có giá trị như giấy tờ, tài liệu xác nhận cư trú đến hết ngày 31/12/2022. Như vậy, bước sang ngày 01/01/ 2023, hộ khẩu giấy sẽ chính thức bị “khai tử” và không còn giá trị sử dụng, thay vào đó “hộ khẩu điện tử” sẽ được sử dụng như một phương thức công nghệ số để cơ quan chức năng quản lý thông tin cư trú cho người dân.

Khi nào được giữ lại sổ hộ khẩu giấy?

Do cơ quan chức năng không bắt buộc thu hồi hộ khẩu giấy sau khi hết giá trị sử dụng nên các hộ gia đình vẫn có thể giữ lại. Nhưng không phải trong mọi trường hợp sau khi hết giá trị sử dụng, người dân được giữ lại sổ hộ khẩu. Trong một số thủ tục, cụ thể quy định tại khoản 2 Điều 26 của Thông tư 55/2021/TT-BCA, bao gồm: “thủ tục đăng ký thường trú, điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú, tách hộ, xóa đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, gia hạn tạm trú, xóa đăng ký tạm trú dẫn đến thay đổi thông tin trong Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thu hồi Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú đã cấp, thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú theo quy định của Luật Cư trú và không cấp mới, cấp lại Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú”. Nếu thực hiện một trong các thủ tục, hộ khẩu giấy của người dân có thể bị thu hồi.

(Nguồn: Internet)

Trường hợp người dân đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú

Để thay thế việc xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú thì công dân có thể thực hiện 1 trong 7 phương thức sau để sử dụng thông tin cá nhân cho các thủ tục hành chính, giao dịch dân sự:

  • Sử dụng thể CCCD gắn chíp điện tử để xác nhận thông tin cá nhân, nơi cư trú
  • Sử dụng thiết bị đọc mã QR trên CCCD có chíp
  • Tra cứu, khai thác thông tin cá nhân trên Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư
  • Sử dụng ứng dụng VneID
  • Sử dụng giấy xác nhận thông tin về cư trú
  • Sử dụng Thông báo số định danh cá nhân và thông tin trong Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư.

Theo đó, khi thực hiện các giao dịch, thủ tục cần có sổ hộ khẩu giấy thì sau ngày 01/01/2023 thì công dân có thể xuất trình căn cước công dân có gắn chíp để thay thế. Dựa trên loại giấy tờ này, người dân có thể chứng minh thông tin cá nhân, nơi thường trú trong các thủ tục hành chính cho cơ quan chức năng. Nếu không phải những trường hợp cụ thể đặc biệt, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền không được yêu cầu người dân xuất trình giấy tờ khác để xác nhận những thông tin đã được chứng minh trong căn cước công dân. Kể từ sau khi Luật Căn cước công dân được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2014 và có hiệu lực vào ngày 01/01/2016, Căn cước công dân cũng được cấp lần đầu tiên tại Hà Nội vào ngày 01/01/2016. Sau khi có quyết định không sử dụng sổ hộ khẩu giấy kể từ ngày 01/01/2023, việc cấp căn cước công dân có gắn chíp càng được đẩy nhanh hơn nhằm thay thế cho hộ khẩu giấy trong các thủ tục xác nhận lưu trú. Bên cạnh đó, Bộ Công An cũng khuyến khích công dân trên 14 tuổi đăng kí thực hiện làm căn cước công dân sớm  để có thể giao dịch một cách thuận tiện.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể, người dân vẫn vấp phải những khó khăn về mặt thủ tục hành chính khi “khai tử” sổ hộ khẩu giấy. Để giải đáp các thắc mắc này, ngày 11/12/2022, Công an TP.HCM (PC06) đã trả lời một số câu hỏi liên quan về chủ đề đăng ký và quản lý cư trú trong chương trình “Dân hỏi- Chính quyền trả lời”. Bạn đọc có thể tham khảo một số trường hợp cụ thể:

Đối với trường hợp các hộ gia đình bị giải toả trắng (nghĩa là giải toả hết nhà ở, đất ở) thì không thể đăng kí thường trú, kể cả trong các diện trẻ em nhập sinh, nhập hộ khẩu cho con dâu, con rể sau khi đăng kí kết hôn hay cả trong trường hợp trở về sau khi thi hành án tù. Tuy nhiên, trong trường hợp mà hộ gia đình vẫn còn giữ hộ khẩu thường trú tại nơi bị giải toả thì vẫn có thể làm căn cước công dân có gắn chíp để thực hiện các giao dịch mà không cần đến hộ khẩu giấy

Trong trường hợp chung cư chưa được cấp sổ hồng, thượng tá Hồ Thị Lãnh, Phó trưởng phòng cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cho biết người dân có thể sử dụng một trong ba loại giấy tờ sau: hợp đồng mua bán nhà ở; giấy tờ chứng minh nhận nhà hoặc bàn giao nhà của chủ đầu tư; giấy xác nhận của UBND cấp xã không tranh chấp về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất. Dựa trên đây, người dân có thể đăng ký thường trú thông qua một trong hai phương thức: trực tiếp tại Công an địa phương nơi cư trú hoặc online thông qua Cổng dịch vụ công.

Khi mua nhà giấy tay hoặc nhà chưa được cấp giấy chứng nhận, trong trường hợp người dân đã có hộ khẩu thường trú nơi khác thì Công an phường xã tiến hành thu thập, cập nhật thông tin trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cấp mã số định danh cá nhân và làm căn cước công dân gắn chíp. Trường hợp mà công dân chưa được cập nhật thông tin trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì cần phải khai phiếu thu thập thông tin cứ trú thì Công an sẽ cấp mã số định danh cá nhân và làm căn cước công dân gắn chíp.

Đối với trường hợp đăng ký thường trú vào chỗ ở của người khác, người dân cần làm rõ hai trường hợp. Một là trường hợp chủ sở hữu hợp pháp cho đăng ký thường trú là nơi cho thuê, mượn, ở nhờ. Và hai là nhập hộ khẩu cho người thân như vợ chồng về với nhau, con cái với cha mẹ. Trong trường hợp đầu thì Sở Xây dựng TP.HCM yêu cầu thì phải đảm bảo diện tích tối thiểu là 8m2/ người. Còn trong trường hợp đăng ký cho người thân thì không yêu cầu.

Trường hợp không đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú

Khi người dân không đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú thì công an địa phương hướng dẫn khai báo nơi ở hiện tại và cấp hai loại giấy tờ sau: Thông báo số định danh cá nhân (mẫu CT01) và Giấy xác nhận thông tin về cư trú (mẫu CT07) thuộc Thông tư 56/2021/ TT-BCA.

Số định danh cá nhân theo Điều 13 Nghị định 137/2015/NĐ-CP được hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư 59/2021/TT-BCA được hiểu là “dãy số tự nhiên gồm 12 số, có cấu trúc gồm 6 số là mã thế kỷ sinh, mã giới tính, mã năm sinh của công dân, mã tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc mã quốc gia nơi công dân đăng ký khai sinh và 6 số là khoảng số ngẫu nhiên.” Số định danh có thể là số căn cước công dân, số định danh cá nhân đã có trong giấy khai sinh. Hiện nay, dựa vào mã định danh cá nhân trên căn cước công dân, khi người dân có nhu cầu có thể đăng ký tài khoản định danh điện tử. Tài khoản định danh điện tử có hai mức độ, cho phép thông tin của chủ thể danh tính điện tử được đồng bộ vào tài khoản định danh này.  Với mức độ thứ nhất, bao gồm các thông tin cá nhân và ảnh chân dung cho phép người dùng thực hiện một số chức năng cơ bản như đăng ký tạm trú, tạm vắng, khai báo lưu trú hay khai báo tạm vắng,…Ở mức độ thứ hai, với thông tin trắc sinh học của công dân (dấu vân tay) cho phép những tính năng đa dạng hoá hơn của tài khoản với sự tích hợp thông tin của nhiều loại giấy tờ như thông tin về thẻ bảo hiểm y tế, chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông, giấy phép lái xe, mã số thuế hoặc giấy tờ khắc thuộc lĩnh vực quản lý của các bộ, cơ quan ngang bộ sau khi thống nhất với Bộ Công an. Theo đó, thông tin về tài khoản đinh danh điện tử cũng sẽ được lưu trữ vĩnh viễn trong hệ thống định danh và xác thực điện tử.

Đối với giấy xác nhận thông tin về cư trú, người dân có thể cấp giấy theo hai hình thức. Một là theo hình thức yêu cầu cấp trực tiếp tại công an địa phương. Hoặc đề nghị cấp bản điện tử thông qua hình thức trực tuyến tại Cổng dịch vụ công quốc giá. Loại giấy này có giá trị 30 ngày kể từ ngày cấp đối với trường hợp xác nhận thông tin về cư trú., trong trường hợp xác nhận thông tin về cư trú thì có giá trị 06 tháng kể từ ngày cấp.

Ảnh hưởng của việc loại bỏ sổ hộ khẩu giấy trong một số thủ tục thường gặp

*Trong thủ tục cấp mới hộ chiếu phổ thông

Sau ngày 01/07/2022, Bộ Công an sẽ ngừng cấp hộ chiếu mẫu cũ (màu xanh lá) mà tiến hành cấp hộ chiếu theo mẫu mới (màu xanh dương). Các hộ chiếu mẫu cũ được cấp sau ngày 01/07/2022 sẽ không có giá trị. Các hộ chiếu mẫu cũ được cấp trước ngày 01/07/2022 vẫn được tiếp tục sử dụng cho đến hết thời hạn ghi trong hộ chiếu. Đối với tờ khai thông tin đề nghị cấp hộ chiếu, bên cạnh việc thực hiện trực tiếp ở Cục Quản lý xuất nhập cảnh và cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh địa phương thì người dân có thể chủ động truy cập Cổng thông tin dịch vụ công trực tuyến để khai thông tin trên mẫu tờ khai, thanh toán lệ phí trực tuyến trước, sau đó chỉ đến trực tuyến cơ quan xuất nhập cảnh nộp tờ khai và chụp ảnh.

Trước đó, khi chưa loại bỏ sổ hộ khẩu và sử dụng Chứng minh nhân dân, công dân đăng ký hộ chiếu phải có sổ hộ khẩu của người xin cấp hộ chiếu hoặc sổ tạm trú KT3 đối với trường hợp người làm hộ chiếu là người ngoại tỉnh (Không có hộ khẩu thường trú tại địa phương xin cấp) cùng với Chứng minh nhân dân bản gốc trong hồ sơ đăng ký cấp hộ chiếu. Tuy nhiên với việc sử dụng căn cước công dân có gắn chíp và “khai tử” hộ khẩu giấy cho phép công dân yêu cầu cấp hộ chiếu không cần phải đem các loại giấy tờ này nữa. Thay vào đó, nếu công dân chưa có căn cước công dân thì nộp hồ sơ tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thường trú hoặc tạm trú. Còn trường hợp đã có  căn cước công dân thì nộp hồ sơ tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thuận lợi. Như vậy, khi công dân yêu cầu cấp hộ chiếu đã có căn cước công dân thì có thể dùng căn cước công dân thay thế cho hộ khẩu giấy và cả sổ tạm trú KT3, điều này tạo sự thuận lợi cho người dân vì không cần phải xét đến yếu tố nội hoặc ngoại tỉnh theo địa chỉ thường trú trước đó.

*Trong thủ tục đăng ký kết hôn

Kết hôn là một trong những nội dung được đăng ký hộ tịch theo điểm b khoản 1 Điều 3 của Luật Hộ tịch. Theo đó, việc thực hiện đăng ký kết hôn thuộc thầm quyền của uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện kết hôn. Trong Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch, tại khoản 1 Điều 2 quy định rõ là bên cạnh cấp bản sao trích lục hộ tịch xuất trình bản chính một trong các giấy tờ tuỳ thân được liệt kê để chứng minh về nhân thân thì trong giai đoạn chuyển tiếp, người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình được giấy tờ chứng minh nơi cứ trú, ở đây thường là sổ hộ khẩu giấy. Nhưng sau đó, nghị định 104/2022/NĐ-CP về việc sửa đổi bổ sung một số điều đã của các nghị định liên quan đén việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công, đã bãi bỏ cụm từ “trong giai đoạn chuyển tiếp, người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú” tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015. Do đó, kể từ ngày 01/01/2023, khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn thì người dân không phải xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú.

Bên cạnh thủ tục đăng ký kết hơn, Nghị định 104/2022/NĐ-CP cũng có những sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến các thủ tục hành chính khác liên quan đến việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu.

Căn cứ pháp lý: Luật Cư trú 2014

Luật Hộ tịch 2014

Luật Căn cước công dân 2014

Nghị định 104/2022/NĐ-CP về việc sửa đổi bổ sung một số điều đã của các nghị định liên quan đến việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công

Nguồn tham khảo:

https://thanhnien.vn/nhung-dieu-can-luu-y-sau-khi-khai-tu-so-ho-khau-post1530863.html

https://vnexpress.net/nhung-dieu-can-lam-khi-so-ho-khau-giay-bi-khai-tu-tu-nam-2023-4552883.html