Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống

,

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới bao gồm 11 nước thành viên trong đó có Việt Nam. Về lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, thời điểm Hiệp định CPTPP có hiệu lực đã đặt ra nhiệm vụ cho các quốc gia thành viên phải thiết lập cơ chế bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống không nhìn thấy được. Ngoài các đối tượng truyền thống mà pháp luật Việt Nam đang bảo hộ là các dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,… CPTPP còn mở rộng ra cả âm thanh, và khuyến khích các nước nỗ lực bảo hộ cả nhãn hiệu mùi. Theo đó, Việt Nam phải thực hiện nghĩa vụ bảo hộ nhãn hiệu thương mại dưới hình thức âm thanh sau 3 năm kể từ ngày CPTPP có hiệu lực.[1] (Hiệp định sẽ có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 14 tháng 01 năm 2019).

Nguồn ảnh: Internet

Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh

Nhãn hiệu âm thanh là nhãn hiệu được tạo ra từ các dấu hiệu là âm hưởng, nhận biết bằng thính giác, có thể do tổ hợp các đơn âm hoặc thang âm cấu thành, dùng để phân biệt nguồn gốc thương mại của sản phẩm hoặc dịch vụ.[2] Nhãn hiệu âm thanh được bảo hộ đầu tiên trên thế giới là nhãn hiệu “3 hồi chuông” (số 916522) của Đài NBC từ năm 1971 cho dịch vụ phát thanh tại Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, nhiều nhãn hiệu âm thanh đã được sử dụng và bảo hộ rộng rãi như: tiếng gầm của sư tử cho dịch vụ giải trí truyền hình của hãng MGM (Mỹ), tiếng chuông điện thoại mặc định của hãng NOKIA (Phần Lan), tiếng sấm rền của hãng mô tô Harley – Davison (Mỹ) hoặc bốn nốt nhạc lên bổng xuống trầm của hãng HISAMISU (Nhật Bản)…

Về dấu hiệu, hầu hết các nước chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu âm thanh không quy định cụ thể hoặc liệt kê các loại âm thanh có thể sử dụng làm nhãn hiệu mà chỉ đưa ra các tiêu chuẩn là âm thanh phải có khả năng phân biệt. Như vậy có thể thấy, tất cả các loại âm thanh (gồm âm nhạc, tiếng động tự nhiên, tiếng kêu của người, động vật…) đều có thể được sử dụng làm nhãn hiệu nếu đáp ứng tiêu chuẩn về khả năng phân biệt. Theo WIPO, nhãn hiệu âm thanh có thể bao gồm: những âm thanh là âm nhạc, âm nhạc này có thể là đã tồn tại từ trước, cũng có thể là được sáng tác mới để phục vụ cho mục đích đăng ký nhãn hiệu hoặc những âm thanh không phải là âm nhạc đang tồn tại trong tự nhiên (ví dụ: như tiếng kêu của các con vật hoặc những âm thanh được tạo ra bởi những những đặc tính địa lý hoặc khí tượng học) hoặc những âm thanh được tạo ra bởi các thiết bị, máy móc hoặc những phương tiện do con người tạo ra.

Về điều kiện bảo hộ, từ thực tiễn bảo hộ của một số nước trên thế giới và dựa trên những quy định chung về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu, có thể thấy, việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh phải đáp ứng điều kiện về khả năng phân biệt. Các nhà sản xuất/cung cấp sản phẩm dịch vụ thông qua các dấu hiệu có tính phân biệt – cụ thể là nhãn hiệu để tạo sự khác biệt đối với sản phẩm/dịch vụ của mình trên thị trường các sản phẩm/dịch vụ cùng loại. Đây được xem là điều kiện trọng tâm khi bảo hộ nhãn hiệu. Các nhãn hiệu âm thanh cũng có thể bị từ chối tương đối nếu bị coi là trùng hoặc tương tự với các loại âm thanh có trước đó. Mặc dù không được làm rõ trường hợp nào dấu hiệu âm thanh yêu cầu bảo hộ bị coi là tương tự với một phần tác phẩm âm nhạc có bản quyền trước đó, nhưng trong trường hợp bị phản đối, nhãn hiệu âm thanh có thể bị từ chối trên cơ sở này nếu chủ sở hữu quyền tác giả, tác phẩm âm nhạc có trước chứng minh được nhãn hiệu âm thanh đã sao chép một phần tác phẩm của mình.

Có thể thấy, đối với các loại nhãn hiệu âm thanh nói riêng và các nhãn hiệu phi truyền thống nói chung việc đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu là khá phức tạp bởi đây là các dấu hiệu không nhìn thấy được, không có tính phân biệt cố định. Chủ sở hữu các loại nhãn hiệu phi truyền thống thường phải đầu tư chi phí và công sức để tuyên truyền, quảng cáo làm cho các dấu hiệu đó đủ để cho người tiêu dùng làm quen và liên tưởng tới sản phẩm, dịch vụ để phân biệt được nguồn gốc thương mại của sản phẩm, dịch vụ đó.

Bảo hộ nhãn hiệu mùi

Nhãn hiệu mùi là nhãn hiệu có thể được tạo ra từ hương, mùi thực tế của sản phẩm hoặc có thể là hương, mùi được sử dụng cho các dịch vụ. Hiện nay pháp luật các nước bảo hộ nhãn hiệu mùi không có sự hạn chế hay liệt kê cụ thể các loại mùi nào sẽ được bảo hộ mã sẽ xem xét, đánh giá trên từng đối tượng đăng ký cụ thể. Do gặp hạn chế về khả năng sử dụng nên nhãn hiệu được bảo hộ với số lượng khiêm tốn, có thể kể đến như: Nhãn hiệu mùi hương của kẹo cao su bong bóng (đăng ký nhãn hiệu số 2560618 tại Mỹ), hương thơm của hoa dại dành cho sản phẩm chỉ khâu và sợ thêu, mùi hương bia đắng nồng (đăng ký nhãn hiệu số 2001416 tại Anh cho lốp xe),…

Về điều kiện bảo hộ, dấu hiệu mùi khi được xem xét để bảo hộ phải là (i) mùi riêng biệt mà người tiêu dùng ngay lập tức có thể nhận ra được; (ii) mùi đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua việc sử dụng trên thị trường; (iii) một mùi không mang tính tự nhiên hay tính chức năng, nghĩa là không phải là mùi tự nhiên của sản phẩm hay mùi do chức năng, công dụng hay chất lượng của sản phẩm tạo ra thì có thể chấp nhận đăng ký.[3] Giống như các loại nhãn hiệu khác, để được bảo hộ nhãn hiệu mùi phải có khả năng phân biệt. Khả năng phân biệt có hai dạng là khả năng phân biệt tự thân và khả năng phân biệt thông qua sử dụng. Khả năng phân biệt tự thân ở nhãn hiệu mùi được hiểu là mùi hương phải có tính độc đáo, để có thể thực hiện vai trò phân biệt giữa các hàng hóa, dịch vụ. Khả năng phân biệt thông qua sử dụng được thể hiện ở việc nếu chủ đơn chứng minh được người tiêu dùng đã quen thuộc với mùi hương gắn trên sản phẩm của mình và có thể dựa vào đó để phân biệt với sản phẩm khác thì lúc này mùi hương sẽ được bảo hộ.

Về hình thức thể hiện, dấu hiệu mùi phải được thể hiện dưới dạng nhất định để có thể thực hiện đăng bạ công khai. Việc thể hiện phải ở dưới dạng truyền tải được thông tin đến người bình thường có thể xác định được đúng nhãn hiệu. Tuy nhiên việc này không hề đơn giản vì mùi hương sẽ không giữ được lâu và mỗi người sẽ có một cảm nhận khác nhau.

Việc bảo hộ nhãn hiệu mùi còn gặp nhiều vấn đề nhất định, không chỉ về thủ tục đăng ký, bảo hộ mà cả về việc mùi vị có thể hoàn thành chức năng của một nhãn hiệu hay không. Việc thực thi bảo hộ nhãn hiệu mùi cũng sẽ gặp nhiều khó khăn bởi khó có thể lưu giữ bằng chứng đối thủ cạnh tranh đã sử dụng nhãn hiệu của mình và tiếp cận nhãn hiệu mùi qua Internet là điều bất khả thi. Do đó, việc bảo hộ nhãn hiệu mùi sẽ thực sự hiệu quả nếu cơ sở vật chất và công nghệ phát triển bao gồm việc (i) tạo ra công nghệ ứng dụng rộng rãi trên các máy tính thiết bị phát ra mùi tích hợp và (ii) xây dựng hệ thống phân loại quốc tế cho các loại mùi với các mẫu mùi có đủ tính ổn định và độ bền mà mọi người có thể truy cập  trực tuyến.[4] Bên cạnh các khó khăn nêu trên, nhãn hiệu mùi cũng tạo ra sự khác biệt khi có thể tác động được đến hầu hết người tiêu dùng bao gồm cả người khiếm thị và người khiếm thính mà nhãn hiệu truyền thống khó có thể làm được.


[1] https://trungtamwto.vn/upload/files/fta/174-da-ky-ket/175-cptpp-tpp11/177-noi-dung-hiep-dinh/Tom%20luoc%20CPTPP%20-%20Chuong%2018.pdf

[2]http://ipvietnam.gov.vn/documents/20182/834910/B%C3%A0i+3.1_B%E1%BA%A3o+h%E1%BB%99+NH+%C3%A2m+thanh_%C4%90%E1%BB%91i+t%C6%B0%E1%BB%A3ng+dc+s%E1%BB%AD+d%E1%BB%A5ng.pdf/9b22307f-e415-4b71-a0b3-15da0055a9da

[3] noip.gov.vn/documents/20182/834910/Bài+4_Bảo+hộ+NH+mùi.pdf/31a734a8-7fe7-4909-8d57-1483b245b22b

[4] http://bross.vn/newsletter/ip-news-update/[PHA%CC%80N-22]-THUC-TIEN-BAO-HO-NHAN-HIEU-MUI-NHAN-HIEU-AM-THANH-O-CAC-NUOC-PHAT-TRIEN-VA-GOI-Y-CHO-VIET-NAM fbclid=IwAR0ZpCkCMYIm5C2qPGjT7GdsQ6ybLrc64eG9cgxhTwZiVqCy5LNbFTYf3Jo