QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG

Trong bất kỳ quan hệ nào, quyền sở hữu trí tuệ cũng nên được bảo hộ một cách đầy đủ và trọn vẹn, như vậy mới có thể phát huy được vai trò cũng như tầm ảnh hưởng của nó đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong quan hệ lao động cũng vậy, quyền sở hữu trí tuệ luôn đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường làm việc liên quan đến tài sản trí tuệ như quyền tác giả và quyền liên quan; quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng đều có thể là nơi phát sinh các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ từ phía người lao động hoặc người sử dụng lao động.

Vậy, quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ lao động là gì, vai trò và quy định của pháp luật về vấn đề này hiện nay được thể hiện như thế nào?

  1. Quyền sở hữu trí tuệ là gì?

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

  1. Quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ lao động?

Đề cập đến quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ lao động, cần lưu ý hai vấn đề sau:

Thứ nhất: Vấn đề xác định quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ được tạo ra trong quan hệ lao động

Quan hệ lao động là quan hệ mà trong đó có sự kết hợp giữa sức lao động của người lao động và tư liệu sản xuất của người sử dụng lao động để tạo ra sản phẩm cho xã hội, và một trong những sản phẩm đó là tài sản trí tuệ. Khi một tài sản trí tuệ được tạo ra trong quan hệ lao động đồng nghĩa với việc có một sự hợp tác giữa hai bên chủ thể là người lao động và người sử dụng lao động. Trong quan hệ lao động, hầu hết người ta đều cho rằng, tài sản trí tuệ được tạo ra trong quá trình lao động đều thuộc sở hữu của người sử dụng lao động bởi chính người sử dụng lao động là chủ thể đã đầu tư các yếu tố vật chất, kỹ thuật, sức người và sức của để tạo ra tài sản đó. Nói như vậy cũng không phải là hoàn toàn sai vì nếu không có người sử dụng lao động, nếu người lao động không làm việc trong môi trường mà người sử dụng lao động tạo ra thì họ không thể có đủ khả năng về vật chất, tự mình có thể hỗ trợ mọi phương tiện để tạo ra sản phẩm trí tuệ. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc phủ nhận đi vai trò của người lao động trong việc tạo ra các tài sản trí tuệ. Nếu xem người sử dụng lao động là điều kiện cần thì yếu tố người lao động là điều kiện đủ để họ sáng tạo ra các tài sản trí tuệ đó. Tóm lại, giữa hai chủ thể này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, một bên là nguyên nhân, còn một bên là điều kiện cho sự hình thành và phát triển sản phẩm trí tuệ.

Thứ hai, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ lao động

Trong quá trình làm việc, người lao động có thể sử dụng hoặc nắm bắt được các bí mật về tài sản trí tuệ của người sử dụng lao động. Do vậy, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng cần phải đặt ra khi thực hiện các công việc trong quan hệ lao động, đó là nghĩa vụ của người lao động đối với vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động trong và sau quá trình làm việc cho người sử dụng lao động. Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động có thể đặt ra các điều khoản bảo mật trong nội quy lao động, nó sẽ ràng buộc người lao động phải chấp hành đúng nội quy do người sử dụng lao động đặt ra. Nếu như người lao động vi phạm nội quy lao động họ sẽ phải chịu các chế tài do người sử dụng lao động quy định hoặc có thể bị xử lý kỷ luật bằng hình thức sa thải. Tuy nhiên, việc kiểm soát chúng có thể sẽ trở nên khó khăn sau khi các bên chấm dứt hợp đồng lao động. Đến lúc đó, người lao động có quyền tự do làm việc ở bất cứ đâu và do vậy không ngoại trừ việc họ sẽ làm việc cho các đối thủ cạnh tranh với doanh nghiệp cũ, từ đó vô tình hoặc cố ý tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ. Ngoài ra, trong quá trình lao động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với một thực trạng là các đối thủ kinh doanh sẽ tìm mọi cách để lôi kéo nhân viên của mình.

  1. Vai trò của việc xác định quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ lao động

Đối với người lao động

Các điều khoản về sở hữu trí tuệ trong quan hệ lao động sẽ giúp người lao động có thể bảo vệ tốt hơn quyền lợi của mình khi chính họ là chủ sở hữu đối với tài sản trí tuệ đó. Khi đặt trong một quan hệ mà người lao động là bên yếu thế hơn so với người sử dụng lao động thì sự tồn tại của các điều khoản phân định rõ ràng các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong từng trường hợp cụ thể là vô cùng cần thiết và quan trọng. Thực tế, doanh nghiệp thường dựa vào người lao động là chuyên gia tư vấn độc lập để phát triển tài sản trí tuệ của mình và mặc nhiên cho rằng họ có quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ đó theo nguyên tắc tôi trả tiền do đó tôi sở hữu”.

Đối với người sử dụng lao động

Thứ nhất, quyền sở hữu trí tuệ đối với người sử dụng lao động có vai trò rất quan trọng, nó không chỉ tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp mà còn là yếu tố quyết định đến khả năng sản xuất kinh doanh và thu hút đối tác trong hoạt động kinh doanh. Việc tạo ra và sử dụng các tài sản trí tuệ của doanh nghiệp trong một số trường hợp sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với người lao động. Trong nhiều trường hợp, người lao động chính là người tạo ra tài sản trí tuệ đó, hoặc do tính chất công việc mà người lao động thường xuyên sử dụng hoặc tiếp xúc với các tài sản trí tuệ của người sử dụng lao động. Do vậy, việc tạo ra hành lang pháp lý hữu hiệu để hạn chế, ngăn chặn sự vi phạm của người lao động đối với quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động là rất cần thiết.

Thứ hai, những vi phạm đối với quyền sở hữu trí tuệ có thể gây ra những thiệt hại rất lớn cho người sử dụng lao động. Thời gian và tiền bạc mà người sử dụng lao động bỏ ra để đầu tư hoàn thiện một ý tưởng có thể sẽ bằng không nếu những đối tượng khác bắt chước. Đối thủ cạnh tranh có thể đặt mức giá thấp hơn vì họ không phải trả các chi phí đầu tư ban đầu.

  1. Quy định của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ lao động

Thứ nhất, thỏa thuận của các bên về vấn đề bảo mật đối với bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ.

Theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật Lao động 2019 quy định: “Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp vi phạm. Pháp luật cho phép người sử dụng lao động và người lao động được quyền định đoạt trong việc thỏa thuận các điều khoản bảo vệ tài sản trí tuệ. Tuy nhiên thỏa thuận này phải phù hợp với các quy định của pháp luật lao động đồng thời không được hạn chế các quyền của người lao động một cách trái phép. Tùy thuộc vào từng lĩnh vực hoạt động, từng vị trí tuyển dụng khác nhau, doanh nghiệp sẽ đưa ra những điều khoản thích hợp để bảo vệ tài sản trí tuệ của mình. Thỏa thuận bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ giữa người sử dụng lao động với người lao động có thể bằng văn bản riêng biệt hoặc có thể được ghi nhận trong hợp đồng lao động. Đó sẽ là căn cứ pháp lý để người lao động chịu trách nhiệm đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp nơi mà mình làm việc. Quyền sở hữu trí tuệ được xem là một loại tài sản của doanh nghiệp, do đó khi bị xâm phạm, doanh nghiệp có quyền yêu cầu người lao động bồi thường thiệt hại như một trách nhiệm vật chất. Tuy nhiên, không phải bất cứ hợp đồng lao động nào cũng bắt buộc phải có điều khoản bảo mật đối với người lao động mà chỉ những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có liên quan đến những tài sản trí tuệ thì mới cần những điều khoản bảo mật đó.

Thứ hai, vấn đề xây dựng các điều khoản bảo vệ tài sản trí tuệ sẽ được quy định trong nội quy lao động, hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận bảo mật thông tin giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Khi hoạt động trong những lĩnh vực ngành nghề có liên quan đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ hay các tài sản trí tuệ khác, người sử dụng lao động phải có những cơ chế nhất định để bảo vệ những tài sản vô hình của mình, tránh sự xâm phạm từ phía chủ thể khác, đặc biệt là từ phía người lao động. Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động được quyền xử lý kỷ luật và yêu cầu người lao động bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp cũng là một trong những căn cứ để xử lý kỷ luật sa thải người lao động. Như vậy, trách nhiệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp không chỉ là nghĩa vụ của người sử dụng lao động mà còn là nghĩa vụ của người lao động. Pháp luật lao động đã có những quy định tiến bộ và cụ thể để từ đó người sử dụng lao động có thể tự bảo vệ tài sản trí tuệ của mình thông qua các quy định nền tảng từ pháp luật.

Cơ sở pháp lý:

  • Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009 và 2019.
  • Bộ luật lao động năm 2019.