Phân biệt quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả
Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền liên quan) là 2 đối tượng riêng biệt của quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ 2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2019). Tuy nhiên, khá nhiều cá nhân và doanh nghiệp vẫn còn bị nhầm lẫn giữa hai đối tượng này. Vì vậy, để làm rõ sự khác biệt và tránh sự nhầm lẫn giữa hai loại quyền này, IP Leader đưa ra bảng phân biệt giữa quyền tác giả và quyền liên quan như sau:
| Tiêu chí | Quyền tác giả | Quyền liên quan |
| Khái niệm | – Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu (Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT) | – Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa (Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT) |
| Căn cứ phát sinh và xác lập quyền | – Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. (Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT) | – Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả. (Khoản 2 Điều 6 Luật SHTT) |
| Đặc điểm | – Bảo hộ hình thức sáng tạo; – Bảo hộ theo cơ chế tự động (không cần làm thủ tục đăng ký như các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác); – Bảo hộ phải mang tính nguyên gốc: tức tự sáng tạo ra chứ không phải tạo nên do sao chép,… | – Đây là quyền phái sinh vì: quyền liên quan dựa trên quyền gốc đó là quyền tác giả (tạo ra dựa trên tác phẩm đã tồn tại trước đó). – Bảo hộ mang tính nguyên gốc: tức tự sáng tạo ra chứ không phải tạo nên do sao chép,… – Tồn tại song song với quyền tác giả và đảm bảo điều kiện là không gây phương hại đến quyền tác giả. |
| Đối tượng được bảo hộ | – Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm: Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; Tác phẩm báo chí; Tác phẩm âm nhạc;Tác phẩm sân khấu; Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh); Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; Tác phẩm nhiếp ảnh; Tác phẩm kiến trúc; Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu. – Tác phẩm phái sinh không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. – Tác phẩm được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác. (Điều 14 Luật SHTT) | – Cuộc biểu diễn – Bản ghi âm, ghi hình – Chương trình phát sóng tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. (Điều 17 Luật SHTT) |
| Chủ thể được bảo hộ | – Người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm (tác giả) ((Khoản 1 Điều 6 Nghị định 22/2018/NĐ-CP)) – Chủ sở hữu quyền tác giả – Tác giả của tác phẩm phái sinh | – Diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật (sau đây gọi chung là người biểu diễn). (Điều 29 Luật SHTT) – Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu cuộc biểu diễn (khoản 1 Điều 44 của Luật SHTT) – Tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác (sau đây gọi là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình). (Điều 30 Luật SHTT) – Tổ chức khởi xướng và thực hiện việc phát sóng (sau đây gọi là tổ chức phát sóng). (Điều 31 Luật SHTT) |
| Điều kiện bảo hộ | – Có tính nguyên gốc; – Tác phẩm là kết quả sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học; – Tác phẩm phải được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định; – Không thuộc các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả (Điều 15 Luật SHTT) | – Có tính nguyên gốc; – Phải thể hiện có dấu ấn sáng tạo riêng của các chủ thể liên quan và không gây phương hại đến quyền tác giả; – Chỉ phát sinh đối với các đối tượng được tạo ra lần đầu. |
| Nội dung bảo hộ | – Quyền nhân thân bao gồm: đặt tên cho tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bồ tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. – Quyền tài sản bao gồm: Làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; nhập khẩu, phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, … (Điều 19, 20 Luật SHTT) | Chủ yếu là có quyền tài sản, duy nhất chỉ người biểu diễn là có quyền nhân thân – Quyền nhân thân của người biểu diễn: Được giới thiệu tên khi có biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, phát sóng, ghi hình, cuộc biểu diễn;bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác cắt xén, sửa chữa hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự, uy tín của người biểu diễn. – Quyền tài sản, gồm có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền: Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi hình và ghi âm; sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn,…. (Khoản 2, 3 Điều 29 Luật SHTT) |
| Thời hạn bảo hộ | – Các quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn trừ quyền công bố tác phẩm; -Các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm có thời hạn bảo hộ như sau: + Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh: TH1: Đã công bố -> có thời hạn bảo hộ là 75 năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; TH2: Chưa công bố -> đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn 25 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là 100 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh; + Tác phẩm còn lại có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ 50 sau năm đồng tác giả cuối cùng chết, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định trên; + Thời hạn bảo hộ từ hai quy định trên chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả. => Thời hạn bảo hộ dài hơn (Điều 27 Luật SHTT) | – Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình. – Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố. – Quyền của tổ chức phát sóng được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm chương trình phát sóng được thực hiện. – Thời hạn bảo hộ của các quyền nêu trên sẽ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ các quyền liên quan. => Thời hạn bảo hộ ngắn (Điều 34 Luật SHTT) |
| Ví dụ | Hoàng Dũng là tác giả bài hát “Nàng thơ” thì Hoàng Dũng có quyền tác giả đối với bài hát “Nàng thơ”. | Ca sĩ Đức Phúc mua ca khúc “Hơn cả yêu” để trình diễn trên sân khấu thì ca sĩ Đức Phúc là người có quyền liên quan đối với buổi biểu diễn bài hát “Hơn cả yêu” của mình. |
Lưu ý:
– Căn cứ xác lập quyền bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan không cần thực hiện bất kỳ thủ tục chính thức nào. Một tác phẩm sẽ tự động được bảo hộ sau khi ra đời mà không cần đăng ký, nộp lưu và nộp phí hay thực hiện bất kỳ một thủ tục hành chính hay chính thức nào khác.Tuy nhiên, thực tế vẫn có thủ tục đăng ký. Việc đăng ký hay không sẽ do những chủ thể của quyền đó lựa chọn. Ý nghĩa của đăng ký đem lại đó là đây sẽ là chứng cứ rõ ràng và thuyết phục khi có tranh chấp xảy ra.
– Thời hạn bảo hộ quyền liên quan ngắn hơn so với quyền tác giả. Quyền tác giả và quyền liên quan sẽ được bảo hộ có thời hạn. Khi hết hạn chúng sẽ không được bảo hộ nữa và được xem là thuộc về sở hữu công cộng.




