AI LÀ CHỦ SỞ HỮU TÁC PHẨM KHI THUÊ FREELANCER?
Với sự phát triển của công nghệ thông tin như hiện nay, việc các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ từ Freelancer (người làm việc tự do) ngày càng phổ biến. Đặc biệt là trong và sau bối cảnh đại dịch Covid – 19, khi mà thông điệp “work from home” (làm việc tại nhà) được lan tỏa khắp mọi nơi thì những công việc online, làm việc tự do càng trở nên phát triển.

Các dịch vụ thường được doanh nghiệp sử dụng khi thuê freelancer có thể kể đến là: viết lách, thiết kế, làm trang web, dịch thuật, … Khi những freelancer chọn công việc này, họ có thể nhận được về nhiều nguồn thu nhập khác nhau, chủ động sắp xếp được thời gian phù hợp với lịch sinh hoạt cá nhân, không cần lo lắng về khoảng cách cũng như thời gian di chuyển đến nơi làm việc, tiết kiệm khoản chi phí xăng xe đi lại. Bên cạnh đó, công việc này không yêu cầu ngoại hình. Về phía doanh nghiệp thuê freelancer, họ giảm bớt được quy trình tuyển dụng, chi phí bảo hiểm bắt buộc phải đóng theo pháp luật quy định hoặc cũng có thể bổ sung nhân sự kịp thời trong trường hợp thiếu hụt nhân sự đột xuất.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên thì một vấn đề cần đặt ra khi thuê freelancer là: Ai là chủ sở hữu đối với tác phẩm là bài viết, tác phẩm truyện tranh, logo, nhãn hiệu hay bức hình (sau đây được gọi là tác phẩm) được sáng tạo ra bởi freelancer? Là freelancer hay doanh nghiệp (người thuê freelancer)? Hãy cùng IP Leader tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
- Freelancer là nhân viên của doanh nghiệp
Trong trường hợp này, giữa doanh nghiệp (người sử dụng lao động) và Freelancer (người lao động) tồn tại mối quan hệ hợp đồng lao động. Trong đó có điều khoản quy định rõ các tác phẩm mà nhân viên tạo ra sẽ thuộc sở hữu của doanh nghiệp, bởi lẽ nhân viên là người làm công ăn lương ở doanh nghiệp, và được doanh nghiệp trang bị các thiết bị kỹ thuật hỗ trợ tạo ra tác phẩm đó. Do vậy, khi các tác phẩm là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra bởi nhân viên sẽ thuộc về sở hữu của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc tất cả mọi quyền đều sẽ được chuyển giao. Khi một tác phẩm được tạo ra, tác giả sẽ sở hữu hai quyền chính là quyền nhân thân và quyền tài sản. Theo đó, quyền nhân thân theo quy định tại Điều 19 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 và 2019 (sau đây được viết là Luật SHTT 2019) bao gồm:
- Đặt tên chotác phẩm;
- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
- Công bốtác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Quyền tài sản theo quy định tại Điều 20 Luật này bao gồm:
- Làm tác phẩm phái sinh;
- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
- Sao chép tác phẩm;
- Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
- Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
- Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Theo đó, quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm, đặt tên tác phẩm là những quyền có thể chuyển giao cho doanh nghiệp theo mối quan hệ hợp đồng. Cho phép chuyển quyền sử dụng (nhưng không được chuyển nhượng hoàn toàn quyền sở hữu) đối với quyền đặt tên tác phẩm là một quy định sửa đổi mới được Quốc hội thông qua trong tháng 6 vừa qua. Quyền đứng tên tác phẩm thì tuyệt đối không được chuyển giao vì nó gắn liền với nhân thân của tác giả. Còn đối với quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm thì cần lưu ý rằng, về nguyên tắc đây là quyền nhân thân không thể chuyển giao. Tuy nhiên, khi quyền làm tác phẩm phái sinh (quyền tài sản) được chuyển giao thì chủ thể được chuyển giao quyền cũng có quyền chỉnh sửa tác phẩm đó miễn rằng sự chỉnh sửa này không theo hướng xuyên tạc, bịa đặt và làm phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả.
Tóm lại, đối với những tác phẩm được tạo ra bởi freelancer là nhân viên của mình thì doanh nghiệp có thể sử dụng những tác phẩm đó cho mục đích kinh doanh.Tuy nhiên, các tác phẩm đó phải ghi tên tác giả và không được xuyên tạc hay cắt xén làm ảnh hưởng đến uy tín và danh dự của tác giả.
- Freelancer không phải là nhân viên của doanh nghiệp

Về bản chất freelancer là tác giả, đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm mà mình sáng tạo ra, trừ khi có sự chuyển giao những quyền tác giả này từ freelancer sang cho người sử dụng lao động. Việc chuyển giao quyền tác giả thường có các dạng sau:
- Chuyển giao một hoặc một số quyền.
Freelancer có quyền chuyển giao một hoặc một số quyền trong nhóm quyền tài sản và/hoặc những quyền nhân thân được phép chuyển giao. Đơn cử như trường hợp freelancer chỉ chuyển giao quyền tài sản ở phạm vi lãnh thổ Việt Nam, để dành chuyển giao quyền tài sản ở Singapore cho người khác. Thông thường, việc chuyển giao một số quyền đồng nghĩa với mức phí dịch vụ mà freelancer nhận được sẽ thấp hơn so với việc chuyển giao tất cả các quyền, do freelancer có thể chuyển giao những quyền còn lại cho những chủ thể khác hoặc lãnh thổ khác.
- Chuyển giao tất cả các quyền, hay còn được gọi là chuyển nhượng (assignment hay all rights transfer).
Trong trường hợp này, cần lưu ý rằng quyền nhân thân (đứng tên trên tác phẩm) là mặc định không được chuyển giao. Trường hợp này, thông thường doanh nghiệp (bên thuê frelancer) có được tất cả các quyền về tài sản và các quyền nhân thân mà pháp luật cho phép chuyển giao, tức họ có quyền sử dụng hay thậm chí bán lại cho bên khác nếu muốn. Và mức phí freelancer nhận được sẽ cao cho thỏa thuận này, vì họ đã chấp nhận không giữ bất cứ quyền tài sản nào cho mình.
- Hợp đồng thuê làm tác phẩm (work made for hire)(1).
Loại hợp đồng này được quy định theo pháp luật về quyền tác giả của Mỹ. Theo đó, khi freelancer tạo ra một tác phẩm như một phần công việc mà họ được thuê, bên thuê sẽ tự động là chủ sở hữu của tất các quyền có trong quyền tác giả gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Do đó, freelancer cần cân nhắc kỹ trước khi ký loại hợp đồng này.
Thực tế cho thấy, có những tình huống mà việc được thuê là mong muốn của các freelancer, như được một tạp chí rất nổi tiếng thuê viết bài, dù biết mình sẽ mất tất cả các quyền với vai trò là tác giả nhưng đa số các freelancer vẫn chấp nhận. Tuy vậy, cần lưu ý là việc chuyển giao toàn bộ quyền nhân thân chưa được chấp nhận theo Luật SHTT về quyền tác giả tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại.
Như vậy, về phía freelancer (người lao động), việc hiểu được các đối tượng quyền tác giả mà mình sở hữu giúp các freelancer có sự chủ động trong việc khai thác các giá trị mà tác phẩm mình tạo ra. Ví dụ: freelancer có thể ghi rõ phạm vi quyền tài sản mà mình muốn chuyển giao theo khu vực địa lý (chỉ chuyển giao quyền công bố và làm tác phẩm phái sinh ở Việt Nam, phân phối và sao chép tại Singapore), hay theo mục đích sử dụng của người thuê (chỉ sử dụng cho trang web, như vậy họ có thể chuyển giao quyền tài sản cho mục đích khác như chuyển thể để làm sách hay phim cho người khác).
Về phía doanh nghiệp (người sử dụng lao động), việc nắm rõ các nguyên tắc về quyền tác giả sẽ giúp doanh nghiệp xác định được loại hợp đồng mà mình nên ký kết, cũng như phạm vi quyền hạn mà mình được sử dụng tác phẩm sau khi đã có được sự thỏa thuận và thống nhất với các freelancer.
- Cơ sở pháp lý:
Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 và 2019.
(1) Stephen Fishman, J.D., Working for yourself – Law & Taxes for Independent Contractors, Freelancers & Gig Workers of all Types, Nolo 2022 (12th Edition), trang 378 và 384.





