TRONG HỢP ĐỒNG CÓ THỂ VỪA YÊU CẦU PHẠT VI PHẠM VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐƯỢC KHÔNG?
Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại đều là những chế tài phát sinh khi có sự vi phạm hợp đồng, theo đó bên vi phạm sẽ phải trả một khoản tiền cho bên bị vi phạm nhằm đền bù cho lỗi mà mình gây ra. Vậy bên bị vi phạm có thể yêu cầu vừa phạt vi phạm vừa bồi thường thiệt hại hay không?
Quy định của Bộ Luật Dân sự 2015
Căn cứ theo quy định tại Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, quy định như sau:
“Thỏa thuận phạt vi phạm
- Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
[…]
- Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.”
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
Theo quy định của Luật thương mại 2005
Luật Thương mại 2005 có quy định ngược lại:
“Điều 307. Quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại
- Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.
- Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.”
Theo đó, nếu trong hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền vừa nhận phạt vi phạm vừa yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại nếu xảy ra thiệt hại thực tế mà không cần có thỏa thuận nào khác. Như vậy, khác với quy định trong Bộ luật dân sự, nếu hợp đồng thương mại không có quy định rõ ràng về việc bên vi phạm chỉ phải chịu phạt vi phạm hay vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu áp dụng cả hai loại chế tài này.
Ảnh: Nguồn: incip.com.vn
- Mức áp dụng chế tài
Theo đó, quy định tại Bộ luật Dân sự 2015:
+ Phạt vi phạm do các bên thoả thuận trừ trường hợp liên quan có quy định khác.
+ Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
Bởi hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Do đó, mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng cũng là một phần trong nội dung của hợp đồng.
Khi một trong hai bên vi phạm hợp đồng, về nguyên tắc hai bên sẽ giải quyết thông qua phương pháp thỏa thuận. Lúc này, mức bồi thường thiệt hại sẽ do hai bên thỏa thuận và quyết định.
Ngoài ra, nếu trong Hợp đồng có nêu cụ thể về các khoản bồi thường cũng như mức bồi thường thì sẽ làm theo quy định tại Hợp đồng. Với điều kiện là các điều khoản đúng theo quy định của pháp luật.
Luật thương mại 2005 quy định như sau:
– Phạt vi phạm: Mức phạt hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.
– Bồi thường thiệt hại: Bồi thường theo giá trị thiệt hại gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm
Như vậy, mức bồi thường thiệt hại xác định theo giá trị thiệt hại thực tế và lợi nhuận trực tiếp (nếu không có hành vi vi phạm).
Kết luận, nếu dựa theo nguyên tắc áp dụng pháp luật chuyên ngành trước, pháp luật chung sau thì có thể hiểu rằng: Nếu vi phạm hợp đồng thương mại thì bên bị vi phạm có thể yêu cầu vừa áp dụng phạt vi phạm, vừa áp dụng bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, nếu hợp đồng bị vi phạm là các hợp đồng dân sự khác (vd: hợp đồng mua bán đất…) thì bên bị vi phạm không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu đã áp dụng phạt vi phạm mà không có thỏa thuận khác trong hợp đồng. Tùy vào từng loại hợp đồng mà cách áp dụng sẽ khác nhau.
Để được tư vấn về các vấn đề pháp lý khác liên quan, bạn đọc liên hệ IP LEADER để biết thêm chi tiết, thông tin liên hệ:
Hotline: (+84) 76 455 2008 (Mr. Bảo)
E-mail: info.ipleader@gmail.com
Địa chỉ: Phòng 03.04 Tòa nhà Newton Residence, Số 38 Trương Quốc Dung, Phường 8, Quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh.





