Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một trong những hình thức công ty phổ biến và được pháp luật quy định chặt chẽ nhất ở nước ta hiện nay. Với phương thức huy động vốn linh hoạt và không giới hạn số lượng cổ đông tối đa, trong công ty cổ phần thường có sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau ở cả trong và ngoài nước. Tùy thuộc vào phần vốn góp và khả năng tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soát mà có thể chia thành các cổ đông đa số và thiểu số.

Luật doanh nghiệp 2014 không có định nghĩa cụ thể về cổ đông thiểu số nhưng theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu thì khi định nghĩa cổ đông thiểu số phải dựa trên hai yếu tố: (i) thứ nhất là phần vốn góp của họ (tỉ lệ phần trăm) trong vốn điều lệ của công ty và (ii) thứ hai, là khả năng của họ trong việc tác động tới chính sách kinh doanh, chiến lược phát triển, lựa chọn người quản lý công ty hay nói cách khác là vai trò của họ khi biểu quyết thông qua các vấn đề tại cơ quan quyền lực cao nhất trong công ty.[1]
Bảo vệ cổ đông thiểu số là bảo vệ đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, hạn chế và ngăn chặn các cổ đông lớn, người quản lý thâu tóm, chiếm đoạt lợi ích hợp pháp của họ. Trên thực tế việc các cổ đông lớn dùng quyền lực, ưu thế của mình để chi phối công ty, trục lợi cá nhân, đẩy thiệt hại cho cổ đông thiểu số không nắm trong tay nhiều quyền quyết định liên quan đến doanh nghiệp rất thường xuyên xảy ra.
Cổ đông thiểu số được hưởng các quyền chung của cổ đông phổ thông được quy định tại Khoản 1 Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014:
- Tham dự và phát biểu trong các Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo ủy quyền hoặc theo hình thức khác do pháp luật, Điều lệ công ty quy định. Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết;
- Nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông;
- Ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty;
- Tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này;
- Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác;
- Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;
- Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty;
Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định một số quyền riêng để bảo vệ cho cổ đông/nhóm cổ đông yếu thế trong công ty cổ phần như sau: Trường hợp cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có thêm các quyền sau đây:
- Đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
- Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát
- Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp Pháp luật quy
- Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết.
Luật doanh nghiệp 2014 đã bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trên các phương diện: (i) bảo vệ quyền tài sản thông qua quyền ưu tiên mua cổ phần khi công ty phát hành cổ phần mới, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần; (ii) bảo vệ quyền quản trị công ty qua quyền đề cử người vào hội đồng quản trị và ban kiểm soát, quyền dự họp đại hội đồng cổ đông, quyền biểu quyết và tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết định Đại hội đồng cổ đông; (iii) bảo vệ quyền tiếp cận thông tin thông qua nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần, quyền xem xét và trích lục sổ sách tài liệu; (iv) bảo vệ quyền khởi kiện người quản lý công ty của cổ đông thiểu số; (v) Quyền yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài huỷ quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
Mặt dù Luật doanh nghiệp 2014 đã quy định khá chặt chẽ các quyền để đảm bảo quyền lợi của cổ đông thiểu số nhưng trên thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn xảy ra nhiều bất cập có thể kể đến như: Cổ đông lớn hạn chế cổ đông thiểu số quyền dự họp thông qua Điều lệ do công ty quy định, hạn chế quyền biểu quyết, chi phối công ty qua việc trực tiếp bổ nhiệm đại diện của mình làm những chức vụ quan trọng, tham ô,…
Luật
Doanh nghiệp 2020 được Quốc Hội thông qua ngày 17/6/2020 chính thức có hiệu lực
vào ngày 1/1/2021 đã bỏ quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông phải sở hữu cổ phần
phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng và giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần
phổ thông từ 10% xuống còn 5% để thực hiện một số quyền của mình. Cụ thể khoản
2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ
05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định
tại Điều lệ công ty có thể thực hiện một số quyền như: Xem xét, tra cứu, trích
lục sổ biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị; Yêu cầu triệu
tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều
này; Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý,
điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết,… Có thể nói quy định
trên đã góp phần đưa các cổ đông yếu thế tiếp cận gần hơn với việc quản trị
công ty và bảo vệ quyền lợi của chính mình. Việc xóa bỏ nội dung giới hạn về thời
gian sở hữu cổ phần tối thiểu giúp các nhà đầu tư mới nhận chuyển nhượng hay
góp vốn vào doanh nghiệp nâng cao quyền bảo vệ, giám sát tài sản của mình một
cách đầy đủ và toàn vẹn.
[1] Trịnh Thị Lành (2016), “Sự phát triển của pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 11.




