Hoàn thiện hệ thống pháp lý về thương mại điện tử

Theo Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam 2020 – ấn phẩm do Cục thương mại điện tử và Kinh tế số xây dựng (Bộ Công thương) phát hành, doanh thu thương mại điện tử B2C tại Việt Nam năm 2019 là 10.08 tỷ USD, chiếm 4.9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cả nước; 42% dân số tham gia mua sắm trực tuyến, tỷ lệ tăng trưởng đạt 25%. So với khu vực, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử thuộc top 3 khu vực Đông Nam Á. Với những thống kê ấn tượng này, có thể thấy, hoạt động giao dịch trên sàn thương mại điện tử đã và đang diễn ra rất sôi động, phát triển vô cùng nhanh chóng.[1]

Ảnh: internet
1. Thực trạng thương mại điện tử trên lãnh thổ Việt Nam:

Hiện nay, tình trạng hàng lậu, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ,… lẫn lộn với các mặt hàng nhập khẩu chính ngạch, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và được công khai mua bán trên môi trường điện tử như mạng xã hội, website thương mại điện tử (TMĐT) và sàn giao dịch TMĐT. Vấn nạn này được thể hiện rõ nét nhất trên các sàn giao dịch TMĐT, nơi tập trung phần lớn giao dịch TMĐT B2C (Business to Customer) và C2C (Customers to Customers).

Thêm vào đó, TMĐT có yếu tố nước ngoài cũng dần trở nên phổ biến đối với người tiêu dùng Việt Nam thông qua việc tiếp cận các sàn giao dịch điện tử nước ngoài như Ebay, Amazon, Taobao,… hoặc các thương nhân có tài khoản thương mại trên các sàn giao dịch TMĐT Việt Nam như Lazada, Shopee, Tiki,…  

Không ít trường hợp người tiêu dùng mua phải hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng trên các kênh thương mại điện tử nhưng không biết quy trách nhiệm cho ai hay làm như thế nào để giành lại quyền lợi của mình. 

Năm 2019, Bộ Công thương đã tổ chức Lễ ký cam kết “Nói không với hàng giả trong thương mại điện tử” với 15 doanh nghiệp kinh doanh sàn giao dịch TMĐT, chuỗi bán lẻ và vận hành trang TMĐT có thị phần lớn trong thị trường TMĐT Việt Nam.

Năm 2020, Bộ Công Thương đã yêu cầu các sàn giao dịch TMĐT rà soát, gỡ bỏ tổng số gần 223,6 nghìn gian hàng và hơn 1 triệu sản phẩm, qua đó đã xử lý trên 30.000 gian hàng với gần 48.000 sản phẩm vi phạm. [2]

2. Quy định pháp luật về TMĐT và thực tiễn áp dụng trong TMĐT:

Thương mại điện tử được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản pháp luật từ Bộ luật Dân sự 2015 với các quy định mang tính nền tảng về giao dịch dân sự, hợp đồng mua bán hàng hoá… đến các luật chuyên ngành như Luật Thương mại 2005, Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Cạnh tranh 2018, Luật An ninh mạng 2018,…

Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ ban hành quy định về TMĐT (Nghị định 52) là công cụ pháp lý quan trọng đối với TMĐT. Theo đó, hoạt động TMĐT được hiểu là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác; website TMĐT là trang thông tin điện tử được thiết lập để phục vụ một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng; sàn giao dịch TMĐT là website TMĐT cho phép các thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu website có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên đó.

– Về cơ chế quản lý thông tin người bán:

   Điều 59 Nghị định 52 quy định rằng người bán có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin về tên và địa chỉ trụ sở, các thông tin về giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc mã số thuế của cá nhân; số điện thoại hoặc một phương thức liên hệ trực tuyến khác. 

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mọi hoạt động từ xét duyệt thông tin người bán, đăng tải thông tin hàng hoá, giao dịch, thanh toán đều thông qua đơn vị vận hành sàn giao dịch TMĐT. Và các yêu cầu của của mỗi sàn giao dịch TMĐT đối với người bán là khác nhau. Theo đó, một số sàn giao dịch TMĐT chỉ yêu cầu người bán cung cấp họ tên, địa chỉ email, số điện thoại hoặc giấy tờ chứng thực cá nhân; tức là so với quy định, sàn giao dịch TMĐT không hề nắm được đầy đủ thông mang tính xác minh về nhân thân của người bán. Điều này một mặt giúp cho sàn giao dịch TMĐT thu hút được các cá nhân, tổ chức lựa chọn làm kênh phân phối, nhưng mặt khác lại gây khó khăn trong việc ràng buộc cũng như truy cứu trách nhiệm khi xảy ra tranh chấp hoặc hành vi vi phạm xảy ra, đặc biệt là khi các hành vi vi phạm và tranh chấp này có yếu tố nước ngoài.

– Về xử lý hành vi vi phạm pháp luật về quản lý chất lượng hàng hoá, sản phẩm; xử lý tranh chấp trong thương mại điện tử:

Điều 36 Nghị định 52/2013/NĐ-CP có quy định sàn giao dịch TMĐT có trách nhiệm đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời khi phát hiện hoặc nhận được phản ánh về hành vi vi phạm pháp luật trên sàn giao dịch TMĐT; đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước điều tra các hành vi kinh doanh vi phạm pháp luật, cung cấp các thông tin về đối tượng vi phạm, lịch sử giao dịch và các tài liệu liên quan về hành vi vi phạm pháp luật trên sàn giao dịch TMĐT. 

Trái lại, thực tiễn áp dụng đa phần chỉ dừng lại ở việc các sàn giao dịch TMĐT thực hiện một số hình thức xử phạt như nhắc nhở, phạt tiền, gỡ bỏ nội dung vi phạm, khoá tài khoản trong một thời hạn nhất định hoặc nghiêm trọng nhất là khoá tài khoản vô thời hạn. Trường hợp áp dụng hình thức xử phạt như thế nào lại tuỳ thuộc vào chính sách của từng sàn giao dịch TMĐT. Điều này cho thấy sự thiếu vắng cơ chế phối hợp giữa sàn giao dịch TMĐT và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp trên sàn giao dịch TMĐT.

– Về trách nhiệm của sàn giao dịch thương mại điện tử đối với người tiêu dùng:

Lấy ví dụ về vụ kiện mới đây do nhà xuất bản Trí Việt là nguyên đơn và bị đơn là sàn giao dịch TMĐT Lazada. Nội dung tranh chấp liên quan đến việc các sản phẩm sách của nhà xuất bản này bị các đối tượng bán hàng làm giả và khai thác thương mại trên nền tảng TMĐT Lazada, gây ảnh hưởng đến uy tín của nguyên đơn và quyền lợi của người tiêu dùng. Có thể thấy, trong mối quan hệ 3 bên gồm sàn giao dịch TMĐT, người bán và người tiêu dùng, sàn giao dịch TMĐT tuy cũng là nạn nhân và bị ảnh hưởng về uy tín nhưng xét cho cùng, đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của các hành vi vi phạm pháp luật chính là người tiêu dùng. Vậy, sàn giao dịch TMĐT có trách nhiệm gì đối với người tiêu dùng trong trường hợp này?

Trước đây, pháp luật chủ yếu quy định trách nhiệm của sàn giao dịch TMĐT đối với người bán có hành vi vi phạm pháp luật và đối với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chứ chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của sàn giao dịch TMĐT đối với người tiêu dùng dẫn đến việc bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng không được bảo đảm.

Chỉ đến gần đây, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì trách nhiệm của cá nhân, tổ chức hoạt động sàn thương mại điện tử đối với người tiêu dùng mới được ghi nhận cụ thể hơn. Mong rằng những quy định này sẽ được áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả, góp phần củng cố vị trí của người tiêu dùng khi tham gia các hoạt động TMĐT cũng như là cơ sở pháp lý đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng được bảo vệ khi xảy ra tranh chấp hoạt phát sinh hành vi vi phạm pháp luật.

Bị First News khởi kiện, Lazada.vn gỡ 8 gian hàng bán sách lậu | VTV.VN
Các ấn phẩm do NXB Trí Việt phát hành được sao chép và bán trên Lazada – Ảnh chụp màn hình.
3. Hoàn thiện khung pháp lý về TMĐT:

– Cần có quy định chặt chẽ hơn về những thông tin bắt buộc phải có khi thực hiện mua bán hàng hoá trên các sàn giao dịch TMĐT để kiểm soát chất lượng hàng hoá, dịch vụ tốt hơn và có cơ sở điều tra, xử lý khi có hành vi vi phạm hoặc giải quyết tranh chấp.

– Bổ sung các quy định đối với mạng xã hội có hoạt động giao dịch TMĐT, tạo ra cơ sở pháp lý hoàn chỉnh để kịp thời điều chỉnh các hoạt động thương mại trong thời đại phát triển của công nghệ số nói chung và TMĐT nói riêng.

– Mở rộng đối tượng điều chỉnh, bao gồm cả thương nhân, tổ chức nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam nhưng phát sinh doanh thu từ TMĐT trên lãnh thổ Việt Nam.

– Nâng cao hiệu quả trong công tác phối hợp điều tra, xử lý sai phạm giữa cơ quan quản lý có thẩm quyền và đơn vị quản lý sàn giao dịch TMĐT, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng trong các giao dịch TMĐT.

Ngoài ra, người tiêu dùng cũng cần nâng cao ý thức khi mua hàng hoá trên mạng xã hội, các nền tảng TMĐT; chủ động tìm hiểu về nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm cũng như thông tin về người bán trước khi thực hiện các giao dịch TMĐT để việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình.

Tài liệu trích dẫn:
[1] https://www.viac.vn/tin-tuc-su-kien/hoi-thao-giao-dich-thuong-mai-tren-san-thuong-mai-dien-tu-va-cac-van-de-phap-ly-quan-trong-n994.html
[2] https://thuonghieucongluan.com.vn/hoan-thien-khung-kho-phap-luat-cho-thuong-mai-dien-tu-a116862.html
Tài liệu tham khảo:
https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/mot-so-van-de-phap-ly-ve-bao-ve-nguoi-tieu-dungtrong-cac-giao-dich-tren-san-giao-dich-thuong-mai-dien-tu-68815.htm