Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu

Ngày nay, với sự phát triển chóng mặt của nền kinh tế ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đã kéo theo sự phong phú, đa dạng cả về số lượng và chất lượng của hàng hóa, dịch vụ. Do đó, việc các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu hiện nay là làm thế nào để sản phẩm của mình phân biệt được với sản phẩm cùng loại của các nhà sản xuất khác và gây ấn tượng với người tiêu dùng. Tuy nhiên cũng xuất hiện ngày càng nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể làm ăn phi pháp, lợi dụng uy tín sẵn có của các nhãn hiệu đã được pháp luật công nhận và bảo hộ nhằm tạo ra lợi thế cho mình mà không phải đầu tư nhiều công sức. Điều này sẽ khiến người tiêu dùng lầm tưởng chất lượng của các sản phẩm kém chất lượng với các sản phẩm đã tạo được uy tín trước đó.

Nguồn ảnh: Internet

Theo Khoản 6 Điều 3 Luật cạnh tranh 2018 “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh do doanh nghiệp tiến hành, trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác”. “Doanh nghiệp” quy định tại Luật cạnh tranh được hiểu rộng hơn so với Luật doanh nghiệp, bao gồm cả tổ chức và cá nhân kinh doanh. Điều 45 Luật cạnh tranh đã liệt kê các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm, trong đó chỉ có hành vi “Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng” liên quan trực tiếp đến việc đăng ký và sử dụng nhãn hiệu.

Luật sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) không định nghĩa mà nêu cụ thể các hành vi bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại Điều 130 như sau:

a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ;

b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ;

c) Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;

d) Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

Cụ thể hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sử dụng nhãn hiệu là hành vi gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo. Chỉ dẫn thương mại ở đây được hiểu là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hóa, dịch vụ. Sử dụng chỉ dẫn vi phạm sẽ gây nhầm lẫn về chủ thể cung ứng hàng hóa, dịch vụ làm người mua hiểu lầm rằng hàng hóa, dịch vụ vi phạm cũng có giá trị, chất lượng như hàng hóa, dịch vụ có gắn chỉ dẫn thương mại hợp pháp hoặc giữa bên vi phạm và doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn thương mại hợp pháp đó có liên hệ với nhau. Như vậy, bên vi phạm đã chiếm đoạt một cách bất hợp pháp tài sản trí tuệ của doanh nghiệp khác, đồng thời lợi dụng uy tín, lợi thế của đối thủ cạnh tranh trên thị trường để tranh giành khách hàng, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp kinh doanh hợp pháp, trung thực. Bên cạnh đó, ngoài việc làm cho doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn thương mại hợp pháp bị thiệt hại do mất khách hàng mà còn ảnh hưởng đến giá trị sử dụng của chỉ dẫn thương mại mà doanh nghiệp đó đang sử dụng. Bởi, một chỉ dẫn thương mại phải trải qua quá trình sử dụng, đầu tư quảng bá lâu dài, xây dựng thương hiệu,… mới tạo ra giá trị phân biệt, làm cho người tiêu dùng nhìn vào đó có thể nhận biết được nguồn cung ứng hàng hóa, dịch vụ mà họ tin tưởng.

Một trường hợp khác được đề cập liên quan đến quan hệ giữa chủ sở hữu nhãn hiệu là doanh nghiệp nước ngoài và nhà phân phối, nhập khẩu, đại lý bán hàng của chủ sở hữu ở Việt Nam. Hành vi này được xem là cạnh tranh không lành mạnh khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau đây: (i) Nhãn hiệu sử dụng được bảo hộ theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam cũng là thành viên; (ii) Điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu; (iii) Người sử dụng nhãn hiệu là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu; (iv) việc sử dụng nhãn hiệu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng. Quy định này ngăn cấm hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các đại lý, đại diện bán hàng thông qua việc khai thác tài sản trí tuệ của chủ sở hữu là doanh nghiệp nước ngoài. Do cơ chế bảo hộ giới hạn trong phạm vi quốc gia, các nhãn hiệu được đăng ký tại quốc gia khác không được bảo hộ tại Việt Nam. Trừ trường hợp đối với các nhãn hiệu nước ngoài đã được đăng ký quốc tế trong đó có chỉ định Việt Nam theo thỏa ước Madrid hoặc trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng được bảo vệ đương nhiên. Đối với các trường hợp đó, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận áp dụng chế độ bảo hộ mà không đòi hỏi chủ sở hữu nước ngoài phải thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam.[1]

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền mà còn có ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng cũng như gây tổn hại cho lợi ích của xã hội nói chung. Do đó, các tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ sẽ bị xử phạt vi phạm theo quy định của pháp luật.


[1] https://123doc.net/document/3755099-tie-u-lua-n-mon-lua-t-ca-nh-tranh-de-ta-i-hanh-vi-canh-tranh-khong-lanh-manh-lien-quan-den-linh-vuc-so-huu-tri-tue-va-thuc-tien-tai-viet-nam.htm