Bình Luận Về Nhãn Hiệu Nổi Tiếng trong pháp luật Việt Nam hiện hành

Trong điều kiện kinh tế hiện nay, nhãn hiệu ngày càng đóng một vai trò quan trọng. Bên cạnh vai trò chính là phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các nhà sản xuất trên thị trường, cung cấp thông tin cho người tiêu dùng trong việc lựa chọn sản phẩm, dịch vụ thì “nhãn hiệu nổi tiếng” còn có các vai trò khác như thu hút thị hiếu người tiêu dùng, là một biểu tượng cho hình ảnh, danh tiếng và uy tín của doanh nghiệp, là yếu tố quyết định tính cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, và là một tài sản trí tuệ có giá trị đặc biệt.

Luật SHTT 2005 đã ghi nhận và có những quy định riêng về cơ chế xác định, bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn những bất cập như sau:

Bình luận về định nghĩa Nhãn Hiệu Nổi Tiếng và tiêu chí công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng

Cụm từ “trên toàn lãnh thổ Việt Nam” trong định nghĩa “nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” có ý nghĩa tương đương với phạm vi được công chúng đại chúng biết tới (public at large) và cụm từ này trái với tiêu chuẩn “bộ phận công chúng có liên quan” (relevant sector of public) theo Hiệp định TRIPs và Khuyến Nghị Chung WIPO năm 1999[1]

Cụm từ này cũng bị xem là mâu thuẫn với Điều 75.1 Luật SHTT chỉ yêu cầu đối với bộ phận công chúng liên quan khi chứng minh yếu tố “số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo”

Sử dụng thuật ngữ “tiêu chí” ở điều 75 là dễ gây hiểu nhầm trong quá trình áp dụng pháp luật. “Tiêu chí” nên được thay bằng “yếu tố” vì tiêu chí vốn có nghĩa là nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn theo đó một thứ gì đó được quyết định, dễ dẫn đến hiểu lầm rằng cả 8 yếu tố của Điều 75 phải được thỏa mãn. 8 tiêu chí (yếu tố) mang tính điều kiện ở Điều 75 cũng nên được xem xét giản lược bớt vì chúng bị xem là gánh nặng đối với chủ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng vì Khuyến Nghị Chung cũng chỉ đưa ra 6 yếu tố cần đánh giá. Mặt khác, cách diễn đạt ở khoản 1 Điều 75 hiện tại có thể gây hiểu nhầm trong quá trình đánh giá và thu thập chứng cứ khi quyết định Nhãn Hiệu Nổi Tiếng, cụ thể yêu cầu về số lượng người tiêu dùng biết đến nhãn hiệu thường được hiểu là yêu cầu một con số cụ thể số lượng người tiêu dùng biết đến.

Bình luận về bảo hộ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng trong thủ tục xác lập quyền theo điểm i khoản 2 Điều 74

Quy định hiện tại “nhãn hiệu xin đăng ký sẽ phải bị từ chối nếu nó chứa dấu hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đã đăng ký, dùng cho hàng hóa/dịch vụ trùng hoặc tương tự, hoặc dùng cho hàng hóa/dịch vụ không tương tự với điều kiện việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của Nhãn Hiệu Nổi Tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của Nhãn Hiệu Nổi Tiếng” chỉ thuần túy liên quan đến Nhãn Hiệu Nổi Tiếng đã đăng ký mà không bao gồm Nhãn Hiệu Nổi Tiếng chưa đăng ký ở Việt Nam. Do vậy xem ra Việt Nam chưa tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ, cụ thể là chưa bảo hộ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng không đăng ký. Ngoài ra, thiếu vắng nguyên tắc xác định thời điểm nhãn hiệu có trước bắt đầu nổi tiếng dẫn đến sai lầm cấp bảo hộ quá rộng và không đúng bản chất pháp lý của Nhãn Hiệu Nổi Tiếng. Hơn nữa, hiện nay đang diễn ra tình trạng khá phổ biến là ”tự phong” nhãn hiệu có trước là nổi tiếng để từ chối đơn đăng ký nhãn hiệu nộp sau, cũng như một khuynh hướng phổ biến khác là đánh đồng phạm vi bảo hộ của Nhãn Hiệu Nổi Tiếng là như nhau.[2]

Việc xác định thời điểm một nhãn hiệu trở nên nổi tiếng có ý nghĩa rất quan trọng vì đó là thời điểm đánh dấu sự chuyển hóa mạnh mẽ của thuộc tính khách quan đầu tiên và thứ hai, cụ thể từ chỗ công chúng chỉ có thể nhận biết một nhãn hiệu như một nguồn gốc thương mại, hoặc nguồn gốc thương mại đó có thể được biết tới rộng rãi bởi công chúng đến chỗ nó có danh tiếng.

Ví dụ, xác định thời điểm nhãn hiệu bắt đầu nổi tiếng là tối quan trọng như trong vụ Apple Inc. vs. TRAB[3]. Theo hồ sơ vụ việc, ngày 31/03/2016 Tòa cấp cao Bắc Kinh đã ra phán quyết bác đơn kháng cáo của Apple Inc. chống lại quyết định của TRAB về việc giữ nguyên kết luận từ chối bảo hộ của Cơ quan nhãn hiệu Trung Quốc (CTMO) đối với nhãn hiệu IPHONE ở nhóm 18 của Xington Tiandi Technologies (Beijing) Ltd. Phán quyết lập luận:

(a) không đủ bằng chứng để chứng minh rằng nhãn hiệu có trước IPHONE của Apple đã giành được tình trạng nổi tiếng trước ngày nộp đơn nhãn hiệu Iphone của Xington, cụ thể là 29/9/2007. Hầu hết các bằng chứng được viện dẫn bởi Apple chứng minh cho quá trình sử dụng đều sau ngày nộp đơn đăng ký nhãn hiệu của Xington. Apple bắt đầu giới thiệu sản phẩm IPHONE của nó tháng 6/2007 nhưng đã không bắt đầu bán điện thoại Iphone cho đến trước tháng 10/2009; và

(b) Tòa cũng cho rằng không có căn cứ chứng minh rằng việc đăng ký nhãn hiệu IPHONE ở nhóm 18 của Xington là trái với quy định của Điều 10.1.8 Luật nhãn hiệu 2013 (dấu hiệu xin đăng ký gây băng hoại đạo đức xã hội và tập quán lành mạnh hoặc có tác động tiêu cực)[4]

Nguồn tham khảo:

[1]: Khuyến Nghị Chung của WIPO năm 1999 có tên gọi đầy đủ trong tiếng Anh là “Joint Recommendation Concerning Provisions on the Protection of Well-Known Marks”. Xem đầy đủ tại link: https://www.wipo.int/edocs/pubdocs/en/wipo_pub_833-accessible1.pdf

[2]: Xem thêm tại http://bross.vn/newsletter/ip-news-update/Ban-chat-phap-ly-cua-Nhan-Hieu-Noi-Tieng-va–binh-luan-che-dinh-Nhan-Hieu-Noi-Tieng-trong-Luat-so-huu-tri-tue-hien-hanh-1918

[3]: TRAB là tên viết tắt của Ban giải quyết tranh chấp nhãn hiệu (tên tiếng Anh là Trademark Review and Adjudication Board), một cơ quan độc lập với cơ quan đăng ký nhãn hiệu (CTMO), thuộc Bộ Công thương, Trung Quốc.

[4]: Xem thêm tại http://www.twobirds.com/en/news/articles/2016/china/a-closer-look-at-the-iphone-and-face-book-trademark-cases-in-china.