Bất Cập Trong Cơ Chế Phản Đối Cấp Văn Bằng Bảo Hộ Nhãn Hiệu Tại Việt Nam
Phản đối/ý kiến của người thứ ba về việc cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu là một thủ tục pháp lý cho phép cá nhân hoặc tổ chức có thể nộp ý kiến bằng văn bản gửi Cơ quan đăng ký nhãn hiệu (Cục Sở hữu trí tuệ – Bộ Khoa học và Công nghệ) yêu cầu không cấp giấy chứng nhận đăng ký cho nhãn hiệu xin đăng ký của người khác tại Việt Nam vì lý do mà cá nhân hoặc tổ chức này cho rằng nếu nhãn hiệu được đăng ký sẽ dẫn tới xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ. (Theo Điều 112 Luật Sở hữu trí tuệ 2005).

Từ việc áp dụng quy định vào thực tế, trong hơn một thập kỷ qua tính từ thời điểm có hiệu lực 1/7/2006 của Luật Sở hữu trí tuệ, cơ chế phản đối/ý kiến của người thứ ba về việc cấp bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam bộc lộ nhiều bất cập. Dưới đây là những bất cập đáng quan tâm nhất đang tồn tại ở Việt Nam.
- Thời hạn cho phép phản đối quá dài. Theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 119 Luật SHTT 2005 thì thời hạn phản đối sẽ kéo dài ít nhất là 9 tháng vì pháp luật quy định bên thứ ba có quyền nộp ý kiến yêu cầu không cấp tính từ thời điểm đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố cho đến trước khi quyết định cấp văn bằng bảo hộ được ban hành trong khi đó thời hạn thẩm định nội dung đơn nhãn hiệu là 9 tháng tính từ thời điểm công bố. Thực tế cho thấy Cục Sở hữu trí tuệ không đủ năng lực để thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu đúng hạn 9 tháng mà thường kéo dài thêm từ 6 đến 9 tháng nữa dẫn đến hệ quả là thời hạn nộp đơn phản đối có thể sẽ là 15 đến 18 tháng. Nhìn ra thế giới thì không có quốc gia nào quy định thời hạn phản đối dài như vậy. Ví dụ thời hạn phản đối ở Trung Quốc là 3 tháng[1], ở Mỹ là 1 tháng (nếu tính cả thời gian xin gia hạn nộp phản đối thì tối đa cũng chỉ là 6 tháng).[2]
- Cơ chế phản đối không nhất quán giữa phản đối đơn đăng ký quốc tế chỉ định Việt Nam và đơn đăng ký quốc gia nộp trực tiếp tại Cục Sở hữu trí tuệ. Thông tư 16/2016/TT-BKHCN bỏ sót quy định về thời điểm cho phép nộp đơn phản đối nhãn hiệu đăng ký quốc tế (do Việt Nam không công bố lại đơn quốc tế) đã nêu trên dẫn đến hệ quả là người ta không biết khi nào được phép nộp phản đối nhãn hiệu đăng ký quốc tế. Hệ thống phản đối hiện tại còn bộc lộ tính không nhất quán (không đồng bộ) giữa đơn đăng ký nhãn hiệu quốc gia và đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu trong đó chứa nội dung bên thứ ba phản đối cấp bảo hộ riêng cho một thành phần hoặc yếu tố cấu thành nhãn hiệu xin đăng ký, cụ thể là Cục Sở hữu trí tuệ quyết định ghi rõ dấu hiệu loại trừ trên giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu và cập nhật vào đăng bạ quốc gia nhưng điều này lại không hề có cơ chế tương tự đối với nhãn hiệu đăng ký quốc tế. Có một số quan điểm cho rằng hiện tại đang có sự phân biệt đối xử giữa đăng ký quốc tế và đăng ký quốc gia liên quan đến tuyên bố phạm vi bảo hộ (disclaimer) ở Việt Nam[3], cụ thể là chỉ có nhãn hiệu đăng ký quốc gia mới xuất hiện disclaimer còn đăng ký quốc tế thì không. Sự bất cập này còn gây khó khăn cho quá trình thực thi, xác định phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu đăng ký quốc tế và dự đoán rủi ro xâm phạm nhãn hiệu trong kinh doanh.
- Hệ thống phản đối dễ bị lạm dụng. Hệ thống phản đối đơn hiện tại rất dễ bị lạm dụng nhằm mục đích kéo dài thời gian thẩm định đơn so với thời hạn thẩm định thông thường. Vì pháp luật cho phép bên thứ ba phản đối cấp văn bằng bảo hộ tính từ ngày đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được đăng trên công báo sở hữu công nghiệp cho đến trước khi quyết định cấp bảo hộ được ban hành nên có thể thấy rằng bất kỳ bên thứ ba nào cũng có quyền nộp phản đối mà không cần phải chứng minh mình có tư cách nộp đơn phản đối dẫn đến làm xuất hiện quá nhiều đơn phản đối cần phải giải quyết. Thông tư 16/2016/TT-BKHCN quy định thời hạn dành cho người nộp đơn trả lời ý kiến phản đối của người thứ ba không tính vào thời hạn dành cho Cục Sở hữu trí tuệ thực hiện các thủ tục liên quan theo quy định. Do vậy việc xử lý đơn phản đối trên thực tế có thể kéo dài thêm nhiều tháng vì gần như không có đơn đăng ký nhãn hiệu nào mà được Cục Sở hữu trí tuệ hoàn thành đúng thời hạn thẩm định nội dung 9 tháng. Thực tế cho thấy đơn đăng ký nhãn hiệu bị trì hoãn thẩm định từ 21-24 tháng tiếp tục bị bên thứ 3 làm dụng bằng cách nộp phản đối làm cho việc giải quyết đơn nhãn hiệu bị phản đối này có thể kéo dài thêm từ một đến vài năm nữa[4]. Vấn đề này sẽ tạo cơ hội cho các đối thủ cạnh tranh chống phá nhau trong việc phản đối nhằm mục đích kéo dài thời gian cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu.
Nguồn tham khảo:





